Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN

Phần I: CHUYẾN DU NGOẠN NGƯỢC VỀ THUỞ ẤU THƠ

Tôi đã đọc khá nhiều sách, nhưng câu nói của Tác giả tiểu thuyết về chàng Hiệp sỹ đánh cối xay gió Don Kihote:’ Cái gì đã học được ở tuổi thơ thì sẽ còn mãi” thì tôi nhớ nhất và luôn nhắc lại mỗi khi có dịp. Còn giờ đây lại có dịp nhắc lại bằng xương bằng thịt.
Nào ! Lên xe, chúng ta du ngoạn ngược về tuổi thơ-(từ trái sang,
 đằng sau lên: Khoa Phi, Ngô Hà, Nhật Lệ, Hồ thị Nghĩa,
Ng.thị Quang Thùy, Lê Khắc Hân)
Sáu mươi hai năm trước, vào dịp đầu hè 1953 Đoàn thiếu sinh khu tư hơn ba mươi đứa trẻ từ 9 đến 15 tuổi bắt đầu cuộc hành quân ngày nghỉ đêm đi,  hơn ba tháng đi bộ từ nơi tập kết Chợ Rộ , huyện Thanh Chương , vốn là thủ đô Vùng Tự Do miền Trung để sang đến Bằng Tường, Trung Hoa. Là Đoàn cuối cùng, thứ 10, đến được Lư Sơn, nên quen gọi là đoàn 10. Có người chỉ khi tập trung ở Chợ Rộ mới xa nhà, đến tập trung còn mếu máo. Nhưng nhiều bạn khác thì đã xa nhà từ 1,2 năm trước nên đã là “ma cũ” dày dạn kinh nghiệm hành quân.
Sáu mươi hai năm sau, cuối xuân đầu hè, ngày 30/3/3 chúng tôi ngược trở lại một đoạn đầu của con đường đi bộ năm xưa.
9 giờ sáng , sau bữa điểm tâm gọi là đặc sản miến lươn Ninh Bình, xe bỏ đường quốc lộ trơn tru, ở ranh giơi giữa khu ba và khu 4 xưa, rẽ vào phía tây men theo “đường làng” mấp mô đến địa danh đầu tiên mà chúng tôi năm xưa đã dừng chân nghỉ ngơi trước khi rời khu Tư an toàn để sang khu ba còn tạm chiếm. Địa danh này là Phố Cát , Thanh hóa.  Nghỉ lại Nho Qu Từ đây đến thị trấn Rịa là 15 km , từ Rịa đến Nho Quan (bìa rừng Cúc Phương) cũng chỉ 10km, quãng đường dài nhất một đêm mà bọn trẻ đi được.  Nghỉ lại Nho Qu
 Nơi đây trong kháng chiến là vùng đệm giữa vùng tạm chiếm với vùng tự do. Vẫn còn nghe vang vọng tiếng đại bác. Đoàn khu tư nhập với đoàn khu 3 từ vùng địch lên (10 người) tại Nho Quan. Một bạn khu ba vừa hy sinh vì đạn địch, bạn Hoàng Kim Giao (K2) bị thương lúc bấy giờ. Sau này Kim Giao là người đầu tiên tháo được ngòi nổ bom từ trường cho quân đội ta nghiên cứu phá bom. Lần phá bom sau ở Nghệ An, Kim Giao bị bom nổ tan thành khói bui. Sau khi nhóm phá bom từ trường được giải thưởng Hồ Chí Minh, người ta quên mất  bạn Hoàng Kim Giao của chúng ta. Về sau Giao được truy tăng Anh Hùng , là niềm tự hào của Viện KTQS nơi Nguyệt Ánh chắc biết rõ. Giơi Vật Lý chúng tôi cũng rất vui vì chuyện này (tôi dạy Vật Lý có dạy vài giờ lớp của Giao, tốt nghiêp Giao nhập ngũ ngay)
Thị Trấn Phố Cát, Thanh Hóa, nơi 62 năm trước đoàn đã dừng nghỉ
để chuẩn bị rời vùng tự do Thanh Nghệ ra khu 3 địch còn tạm chiếm.
Rịa là ranh giới giữa Thanh Hóa-Ninh bình. Đoàn đi từ Phố Cát qua Rịa
đến Nho Quan, nơi còn nghe tiếng đại bác.
Lúc bấy giờ gặp nhau ở Nho Quan, sáng dậy thấy các bạn khu ba xuống suối đánh răng, nhổ bọt trắng xóa, bọn trẻ khu tư như tôi lạ lắm, liền hè nhau nhảy xuống suối bốc bọt lên nếm thử cho biết đánh răng là thế nào ! Ôi , một thời thơ ấu, hồn nhiên, gian khó , làm sao mà quên được !.
Từ Phố Cát (huyện Thạch Thành, Thanh Hóa) theo con đường mòn ngày xưa đi bộ , nay là quốc lộ 45 đến Cẩm Thủy . Gọi là quốc lộ nhưng đường vô cùng xấu, xe chở mía cho nhà máy đường Lam Sơn, lặc lè quá tải,  cày nát con đường. Chắc quân của ông La # không dám động đến cánh lái xe dữ dằn “ăn rau má, phá đường tàu “ ở đây! Ngày trước chúng tôi đi bộ từ thị xã Thanh Hóa qua Đồi Thông lên đây. Nhưng giờ thì chúng tôi bỏ đoạn này để đến Lam Sơn. Nhưng đường quá xấu, Tuấn Nga đã chịu không nổi rồi, chúng tôi đành bỏ kế hoạch đến Lam Kinh mà nhảy ngay lên đường Hồ Chí Minh ở Ngọc Lặc cho êm thuận, dù xa hơn.  Đã hơn 60 năm , ở nhà Tây ăn cơm Tàu ,U80 cả rồi , đâu còn như thuở thiếu sinh quân gian khó thuở lên 10 !
Đường hàng tỉnh xấu lắm. Mệt quá rồi !
Đường mòn HCM chạy trong núi rừng đẹp như mơ, ai nấy phấn chấn , hát hò “quê Bù Linh hay quê Bù Leo…” vang rừng núi. Không dừng lại Lam Sơn, cố chạy 110km cho đến tx Thái Hòa ,Nghĩa Đàn Nghệ an để nghỉ trưa. Đây chính là con đường thượng đạo ngày xưa Lê Lợi năm 1424 theo mưu Nguyễn Chích bỏ Lam Sơn vào Nghệ An xây căn cứ , nhờ đó mới đánh thắng được quân Minh. Thế nhưng đi được nửa đường, đói quá , dừng chân lại  quán núi ở Yên Cát , Như Xuân ,Thanh Hóa. Gọi là quán miền núi, nhưng là một khu nhà sàn hoành tráng, thật ra đây là chốn ăn chơi của các đại gia. Mấy chị Quang Thùy, Nhật Lệ…trong lúc chờ cơm, leo lên tầng 2, đãchoáng ngợp với cảnh ăn chơi VIP, với chục phòng A-Z bí hiểm, phập phùng tiếng nhạc dậm dật. Ngó trộm qua khe cửa hẹp thấp thoáng bóng hồng sơn nữ với các đấng mày râu. Nhà sàn xây gỗ quý, khó ai tưởng tượng nổi. Các quý ông hết thời oanh..chỉ có cách đi ngắm những cột, sàn gỗ quý hiếm…khó có nơi nào ở Sài Thành, Hà nội có được. Khá khen cho Đại gia nào có mắt tinh đời xây nên nơi này, chỉ một giờ chạy xe từ TP Thanh Hóa, hay 2 giờ từ Nghi Sơn là đến được ăn chơi thâm sơn cùng cốc này. Bữa trưa quán núi hôm nay mới được chứng kiến Nữ tướng Ngô Hoàng Hà , quả danh bất hư truyền. Các anh Khắc Hân, Hồng Nhật, Uy Liêm, Khoa Phi hý hửng khoe tài với chai Johny Walker đầy ắp mà cũng không địch nổi Ngô Hoàng Hà . Anh cả Lê Khắc Hân đành phải    ngậm ngùi than thở, bốn anh em ta chỉ bằng một nửa “thằng” Ngô thị Hoàng Hà này thôi. Từ nay nó ngồi bàn với chúng ta, còn Xuân Hoài thì từ nay phải sang ngồi bàn với chị em
Tiệc rượu trưa ở quán núi Yên Cát, Như Xuân (rượu tự mang đi)
Thật  là xứng với câu ca “ Gái Công trường như hoa Thiên Lý. Trai Địa chất như khỉ leo cây”. Số phận đã đưa một cô gái K3 xinh đẹp trở thành một chỉ huy công trường từ năm 1962 , lúc đó đa số chúng ta còn trên ghế giảng đường đại học. Lăn lội khắp mọi công trường xây dựng từ nam ra Băc, Ngô Hoàng Hà đã góp sức xây dựng nên bao công trình cho đất nước và xây cho mình một khu resort  lớn ở Bảo Lộc mà anh em ta đã và sẽ có dịp đến thăm.
Chuyện Phi Nghĩa: mới buổi sáng vào rừng. Hôm sau đã ...ọe !
Đường HCM chạy phía tây Thanh Nghệ, đẹp như tranh vẽ. Sau một chầu rượu hết cỡ , tưởng là mọi người lim dim, nhưng càng đi càng hăng say hát hò , thay nhau kể chuyện sáu mươi năm trước. Ai đó lên tiếng hỏi chuyện thằng nào ngày xưa đi đường dấu anh em để mút trộm sữa nhỉ ? Uy Liêm tuy đạo mạo , nhưng cũng thừa nhận , số là lúc bấy giờ Liêm có một hộp sữa “Con Chim” hàng của vùng địch mang ra. Nhưng Liêm không biết cách nào hút ra được. May nhờ có thằng ……bày cho cách đục hai cái lỗ, thế là hai thằng từ đó dấu cả đoàn thi nhau hút sạch hộp sữa đặc. Nay xin thành khẩn nhận khuyết điểm !
Rừng núi đẹp quá, lại bia rượu đầy bụng, chưa đến được Đô Lương mà đã hò nhau dừng xe giữa rừng để …ngắm rừng cận cảnh. Thế mà cũng có chuyện Phi Nghĩa xẩy ra đấy, xin mời ngắm ảnh và chú thích kèm theo (phó nháy và bình luận của Hồng Nhật)

 Một vùng rừng núi Nghĩa Đàn ngày xưa, vùng đất đỏ quý hiếm của miền Trung  nay là bát ngát những cánh đồng. Trước đây là nông trường trồng cam làm đặc sản xuất khẩu sang Liên Xô. Liên Xô sụp đổ, cam tàn và thoái hóa. Dân nghèo xác xơ. Mãi rồi cũng kiếm lối thoát. Giờ thì ngoài cam còn có Cao su và  Bò sữa. Hàng chục cây số xanh ngát màu cỏ Voi, Ngô lai . Đây là trang trại bò sữa hàng vạn con sống như bà hoàng của Cty True Milk , sữa TH đấy mà, vốn là tên gọi tắt của bà  Thái Hương, chủ Ngân Hàng Bắc Á (theo tin đồn là sân sau của một trong tứ trụ người Nghệ !).
Chọn mua cam Vinh trái mùa, thực ra là cam Nghĩa đàn
trên đường Hồ Chí Minh. Cam càng xấu càng ngon !
Cam Nghĩa Đàn (tức cam Vinh) vẫn có, tuy không đúng mùa. Lạ nhất là cam càng bé, càng héo thì lại càng đắt, càng ngon, cô bán hàng khuyên thế. Các chị có kinh nghiệm như Minh Hà, Quang Thùy chọn ăn thử ngay cam này rồi mới mua, còn các cô Nghĩa , Lệ chuộng to đẹp thì ôm ngay lấy đống cam to tướng, vàng óng trả tiền liền …và ăn rồi mới biết. Dân miền núi xứ Nghệ bầy choa không có “nói xạo” đâu.
Thị trấn Đô Lương
Sắp đến quốc lộ  số 7 lên Lào thì chúng tôi rẽ vào quốc lộ 15A, con đường kháng chiến chống Mỹ ngày trước để đến thị trấn Đô Lương, một địa danh nổi tiếng mà 62 năm trước đoàn trẻ con đã dừng chân chuẩn bị lương khô để hành quân đường dài. Thị trấn Đô Lương nằm trên giao lộ 15A với đường 7, ở thượng nguồn sông Lam. Cách Đô Lương khoảng 50 km về phía tây sát đường 7 và sông Lam là Thành Trà Long thuộc vùng Trà Lân (nay là huyện Con Cuông) nổi tiếng trong kháng chiến chống Minh năm 1424 : “ Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật. Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay-Bình Ngô Đại Cáo). 
Từ Đô Lương nếu theo đường 15A khoảng 15 km thì đến Truông Bồn, một địa danh có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, là huyết mạch trên tuyến đường Quốc lộ 15A để vận chuyển quân lương, đạn dược. Hơn 1.240 cán bộ, chiến sỹ, dân quân tự vệ, TNXP, công nhân ngành Giao thông đã anh dũng hy sinh tại đây. Đường 15A mới có sau này. Khi chúng tôi hành quân 62 năm trước là theo dọc đê sông Lam, nay mở ra thành quốc lộ 46. Theo con đường này, giờ chỉ hơn 20 phút là đến Thị Trấn Thanh Chương, cách Đô Lương 18 km , ngày trước đi bộ một đêm. Qua thi trấn Dùng (tức Thanh Chương) một đoạn vài km, bỗng Nhật Lệ lên tiếng:
- Đã đến Chợ Rạng chưa nhỉ ?
- Sao Nhật Lệ biết Chợ Rạng ?
- Từ năm 49-50 gì đó, gia đình Lệ từ vùng tạm chiếm Quảng Bình tản cư ra ở đây. Cha Lệ làm việc ở UBKC Liên Khu 4 mà lại. (cha Nhật Lệ là chủ tịch LK4 lúc bấy giờ-chú thích của Khoa Phi). Từ đó năm 53 Lệ đến tập trung đoàn 10 ở chợ Rộ, chỗ Liên Khu Ủy Khu 4 đóng trụ sở.
- Chợ Rạng đây rồi, có nhớ chỗ nào không để dừng lại
- Không nhớ nữa, thôi đi tiếp đi !
Đi dọc quốc lộ 46 dọc bên bờ Sông Lam, bãi sông rộng mênh mông. Mùa mưa đến thì nước sông Lam sẽ ngập sát mép đường. Đến cầu Chợ Rộ mặt trời đã xuống núi. Cảnh hoàng hôn trên sông Lam đẹp đến nao lòng.
Hoàng hôn trên sông Lam, nhìn từ cầu Chợ Rộ bắc qua sông Lam
Khoai chợ Rộ bùi ngon nổi tiếng, đã vào thơ ca :
Quê ta ngọt mía Nam Đàn/ Bùi khoai chợ Rộ ,thơm cam Xã Đoài. Chúng tôi dừng xe bên cầu Chợ Rộ lúc mặt trời đỏ rực xuống gần chân trời, soi bóng sông Lam mênh mông. Qua cầu Chợ Rộ là sang khu vực ngày xưa các cơ quan đầu não kháng chiến đóng. Nơi đây sát vùng rừng núi biên giới Việt Lào chỉ  chưa đến chục cây số. Các bạn tứ xứ đến, như Nhật Lệ từ chợ Rạng, Quang Thùy từ Nam Đàn, Hồng Nhật từ Đức Thọ Hà Tĩnh, Ngô Hà từ Can Lộc, Minh Hà từ Thạch Hà, Hồ Uy Liêm từ Đức Thọ…thì được người nhà đưa đến tập trung.  Những người như Khoa Phi, Xuân Hoài..  đã gia nhập thiếu sinh khu tư từ mấy năm trước thì tự lực đến đây.
Tất cả có mặt bên cầu Chợ Rộ, phía sau lưng xa xa ,dưới chân rặngnúi là nơi dân Đoàn thiếu sinh khu tư từ Binh Trị Thiên đến Nghệ Tĩnh tập kết tại đây 62 năm trước để đi bộ hơn 3 tháng sang Trung Quốc
(trái: Khoa Phi,Xuân Hoài, Hồng Nhật,Khắc Hân,Uy Liêm,Quang Thùy, Ngô Hà,Minh Hà,Hồ thị Nghĩa,Nhật Lệ,Tuấn Nga)

Tất cả đều phải đi qua đường mòn giữa ruộng khoai qua đò Chợ Rộ. 
Đường xuống bến đò chợ Rộ xưa nay đã lát beton. Bến đò đã thay bằng cầu rồi!
Nay đường xuống bến đò đã lát beton để dân đi trồng khoai, đò cũng đã thay bằng cầu rồi !
Tất cả đoàn đều tần ngần , không muốn rời xa nơi bắt đầu gặp nhau từ 62 năm trước và tình bạn đằm thắm , kỳ lạ, kéo mãi đến nay. Đã muộn rồi, còn hơn trăm rưỡi km mới đến đích hôm nay, tất cả lên xe, đi về phía tây lên lại đường Hồ Chí Minh, rồi hướng về phía nam , chạy dọc biên biên giới Việt Lào.
(Hết phần I, xin mời đọc tiếp phần II)


.

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Đầu xuân bàn về số mệnh theo quan điểm khoa học

NÓI CHUYỆN SỐ MỆNH DƯỚI GÓC NHÌN KHOA HỌC
Trần xuân Hoài
(BÀI ĐÃ ĐĂNG RÚT GỌN TRÊN "Tia Sáng" , số xuân Ất Mùi ra ngày 5/2/2015 ,trang 45-49)
Lại mở đầu một năm mới, cũng là lúc thử luận bàn về khoa học và sự huyền bí tâm linh.
Trời đất vận chuyển tuần hoàn vĩnh viễn không sinh không diệt, chỉ có cuộc sống hữu hạn của muôn loài là trôi theo một chiều từ sinh đến diệt mà thôi. Phía trước luôn là bí ẩn và ai cũng muốn biết trước điều sẽ xẩy ra. Do đó dù thuộc chủng tộc nào, thuộc nhóm đức tin nào, dù thuộc tầng lớp nào, dù trình độ hiểu biết ra sao, muốn hay không, thì với con người việc tìm cách tiên tri hay tiên đoán mà dân gian gọi là bói toán, là hoạt động đã tồn tại hàng ngàn năm qua cho mãi đến nay, và có lẽ là một trong những môn cổ nhất lịch sử văn minh nhân loại[1].

CÓ CHĂNG KHOA HỌC HUYỀN BÍ ?
 Khi khoa học phát triển và có uy tín không thể bàn cãi, người ta cũng gán cho bói toán cái danh khoa học, gọi là thuộc về khoa học huyền bí.
Bất cứ ngành khoa học nào cũng phải bắt đầu bằng những tiên đề (Axiom) . Đó là những chân lý tự thân đúng, không cần và không thể chứng minh. Ví dụ ngành Vật lý thì thừa nhận Vật chất và năng lượng là bảo toàn, không tự nhiên mất đi và không tự nhiên sinh ra. Mỗi học thuyết (hay lý thuyết) cụ thể trong một ngành khoa học cũng phải xây dựng trên những tiên đề riêng (còn gọi là định đề- postulate) là những chân lý không thể chứng minh bằng chính lý thuyết đó[2]. Ví dụ, thuyết tương đối của Einstein trong vật lý coi tốc độ ánh sáng trong chân không là cực đại và bất biến theo mọi hướng. Định đề này được rút ra bằng thực nghiệm, còn lý thuyết của Einstein thì không thể chứng minh được tại sao.
Vây nên, nếu muốn coi bói toán  là một khoa học, ít nhất là Khoa học huyền bí, thì  Tiên đề đầu tiên của bói toán, là phải thừa nhận có một sự sắp đặt trước nào đó của tạo hóa khi một con người sinh ra. Nói theo ngôn ngữ khoa học, đó là tạo hóa đã lập trình cho mỗi sinh linh khi ra đời và việc bói toán là việc cố giải mã  lập trình của tạo hóa. Trong cái gọi là Khoa học Huyền bí về bói toán tồn tại nhiều thuyết huyền bí, mỗi thuyết đều phải dưa trên một hay nhiều định đề cơ sở. Ví dụ bói vân tay thì coi vết chỉ tay là dấu hiệu của cuộc đời. Bói mai rùa (Trung Hoa), bói chân gà (Việt nam), bói lòng lợn (Châu Phi) cũng tượng tự. Bói Kiều thì coi 3254 câu Kiều là chỉ dấu của đời người…Nói chung là rất tùy tiện, không có bài bản gì để bàn luận. Tuy nhiên, nền minh triết đông tây hiện nay tồn tại ba học thuyết tiên tri tương đối có bài bản đó là Chiêm tinh học (Astrology), Kinh Dịch, Tử Vi.
Ba ngàn năm trước Công nguyên, người Lưỡng Hà (Vùng Irac-Syria ngày nay) bắt đầu mày mò nhìn đoán sao trên trời-Chiêm tinh (Astrology) .  Họ đã quan sát bầu trời và phát hiện ra chuyển động biểu kiến của  mặt trời tương ứng với vị trí các chòm sao nhất định , có tính chu kỳ hàng năm. Và sau đó người Babylon tạo ra 12 ký hiệu Hoàng đạo. Người Ai Cập cải tiến nó và đến lượt người Hy Lạp thì hệ Hoàng đạo (Zodiac)  đã hoàn chỉnh. Họ đã chia một chu kỳ mặt trời ra được 12 cung (độ dài khoảng 30 ngày) định vị với các chòm sao tương ứng trong một năm. Ngày sinh của một cá thể người là chỉ dấu gắn chặt với cung hoàng đạo, nên đó là cung chiếu mệnh của cá thể đó. Định đề này có thể chấp nhận được. Hơn nữa, thuyết này đã có một cơ sở khoa học khá sớm , đó là thừa nhận mặt trời là một tác nhân chủ yếu đến sự hình thành và phát triển con người. Nhưng khi đi xa hơn, mỗi cung Hoàng đạo lại được gắn cho những thuộc tính nhân tạo, cùng với những tương tác của các cung Hoàng đạo với nhau thì thật là đáng ngờ. Ví dụ , lấy gì để nói rằng Capricornus – Ma Kết (22/12 – 19/1) , Virgo – Xử Nữ (23/8 – 22/9), Taurus – Kim Ngưu ( 20/4 – 20/5) là nhóm Đất,. Những người sinh ra trong nhóm Đất rất chung thủy, cần cù, ôn hòa và khoan thai ! Và khi lấy đó làm một định đề cơ sở để tiên đoán thời mệnh của con người thì đó là việc hoàn toàn tùy tiện, không thể lý giải. Nhưng đó lại chính là mảnh đất làm ăn của các nhà Chiêm tinh học cổ đại và hiện đại. Dù biết là vô lý như vậy nhưng loài người ngày nay , nhất là giới trẻ vẫn gửi niềm tin vô vọng vào đó.
Ở Phương Đông thì cũng thịnh hành một kiểu gần giống thuật chiêm tinh nói trên, gọi là Tử Vi. Khởi nguồn muộn hơn, có thể là thế kỷ 10 sau CN, và được quy cho Trần Đoàn , hiệu là Hi Di , đời Tống sáng tạo ra. Cũng giống như thuật Chiêm tinh Tây phương, Tử vi cũng coi số mệnh con người được an bài từ lúc chào đời. Lấy ngôi sao ứng với thời điểm chào đời làm sao chiếu mệnh. Thời điểm chào đời tính theo lịch Mặt trăng , mà tên gọi của năm là tổ hợp của 10 can và 12 chi –tức 12 con giáp. Việc thừa nhận ảnh hưởng của vũ trụ và đặc biệt là chu kỳ mặt trăng đến con người là có tính khoa học. Từ các thông số đó và giới tính , theo một quy trình do con người không dựa trên bất kỳ cơ sở nào để xếp các sao thành một lá số . Đó là điều thứ nhất mang tính áp đặt buộc phải thừa nhận mà không lý giải được vì sao. Cái thứ hai không thể lý giải được là hệ thống sao của Tử Vi đã không theo một quan sát thiên văn nào cả mà hoàn toàn do con người tự đặt ra (Ban đầu theo Hi Di thì có 93 sao, hậu thế thì lại an đến 118 sao). Điều vô lý thứ ba, Tử Vi cũng gán cho mỗi sao mỗi thuộc tính và quy luật tương tác không dựa trên một cơ sở nào cả. Điều này cũng hoàn toàn giống như điều phi lý của Chiêm tinh học khi quy cho mỗi cung Hoàng đạo một thuộc tính. Khi được hỏi cơ sở nào để thừa nhận thì được trả lời: theo người xưa truyền lại. Nói khác đi, tiên đề cho học thuyết Tử vi là: Người xưa bảo thế! Vô lý chưa, vậy nhưng tin thì cứ tin , và sự thực thì bói Tử vi vẫn tồn tại mãi mãi . Con người mà !
   Phương Đông từ rất sớm , quan niệm vạn vật từ vũ trụ đến con người là sự kết hợp của âm dương và từ hơn năm ngàn năm trước CN đã xây dựng được một hệ thống biểu diễn toán học cuả quan niệm tổng quát đó bằng các quẻ của Kinh Dịch. Cổ nhân dùng một nét gạch liền gọi là Dương và một nét đứt đoạn gọi là Âm. Đó chính là Lưỡng nghi , theo toán học ngày nay đó là cơ số 2. Khi chồng hai gạch đó lên nhau, thì thu được 4 tổ hợp, gọi là Tứ tượng , tương ứng 22.Chồng thêm một gạch (liền hoặc đứt) nữa thi thu được tám tổ hợp , gọi là bát quái , tương ứng 23. Chồng hai tổ hợp của bát quái lên nhau, thu được tất cả 64 tổ hợp , gọi là Trùng quái, tương ứng 26.. Cho đến đoạn này thì các quan niệm âm dương, xây dưng nên hệ cơ số hai là hoàn toàn khoa học. Đáng tiếc là cổ nhân phương Đông (Trung Hoa hay Việt gì đó) hơn 4000 năm trước chỉ dừng lại ở 64 quẻ Dịch , không thể đi xa hơn để xây dựng nên Đại Số Học Nhị Phân, cơ sở cho máy tính hiên nay ! Trái lại cổ nhân lại coi chúng như biểu trưng cho sự bí ẩn huyền diệu . Các bậc thánh hiền hậu sinh , mỗi người mỗi cách gửi gắm minh triết của mình vào mỗi quẻ Dịch một bài thuyết giảng, bắt đầu từ Chu Văn Vương viết lời Soán, con là Chu Công viết Hào từ , rồi Khổng tử giải nghĩa thêm gọi là Thập Dực, thế là bộ Kinh Dịch huyền bí hoàn thành, người đời sau cứ thế mà suy luận thoải mái, gọi là giải Dịch. Vì dựa trên hệ nhị phân, giống như đồng tiền có hai mặt quy ước Âm-Dương, nên khi gán một quẻ Dịch cho đối tượng nào thì làm thủ thuật xin quẻ, đơn giản nhất là tung đồng tiền sấp ngữa (Âm hoặc Dương), hoặc rút hay xóc thẻ làm bằng các lóng tre có đốt hay không có đốt. Sau một số lần gieo nhất đinh thì thu được một quẻ Dịch cho đối tượng đó. Thế là các nhà bói dịch dựa vào các lời thánh hiền viết cho mỗi quẻ mà giải thuyết, không khác gì dân Việt ta bói Kiều, đối tượng tin tuyệt đối ! Nội dung của Chu Dich gồm phần Kinh Dịch là phần về bói toán. Phần thứ hai là Truyên Dịch là giải thích Kinh Dịch đậm chất triết học, nhưng mơ hồ huyền bí lắm. Chỉ có thể bàn về phần bói dịch, rằng việc gán cho mỗi quẻ dịch mang một phần triết thuyết nào đó là không có cơ sở và việc giải đoán nó lại càng mơ hồ. Sau nữa , thủ thuật  xin quẻ cho đối tượng dưa trên sự xin quẻ ngẫu nhiên, rõ ràng là thua xa việc dựa trên thời điểm sinh nhật của đối tượng như thủ thuật Chiêm tinh học hoặc Tử Vi sử dụng. Cái duy nhất khả dĩ chấp nhận được trong bói Dịch là quan niệm mọi thực thể vũ trụ, kể cả con người,  là chịu ảnh hưởng của vũ trụ và là sự kết hợp âm dương mà phát triển lên[3].
Tóm lại, cả ba thuyết phổ biến về tiên tri bói toán này đều xuất phát từ những quan niệm (hay định đề-Postulate) tương đối khoa học nhưng khi diễn dịch ra để áp dụng làm công cụ bói toán-tiên tri thì hoàn toàn khiên cưỡng, tùy tiện, phi khoa học và phi logic.

LIỆU CÓ THỂ BIẾT TRƯƠC SỐ PHẬN ĐƯỢC CHĂNG ?
Khoa học hiện nay chưa thể lý giải mọi hiện tượng. Vì vậy có lúc cũng phải viện dẫn đến niềm tin để làm cơ sở. Chẳng hạn, có linh hồn hay không ? Khoa học không thể phủ định cũng không thể khẳng định. Đa số tin rằng con người bao gồm phần thực thể (Physical) và phần tinh thần (spirit). Phần tinh thần quá cao siêu, không dám bàn về số phận tinh thần. Vậy chúng ta chỉ bàn về số phận cho phần thực thể mà thôi. Nếu loại bỏ những điều phi khoa học, không logic và mang màu huyền bí thì những luận cứ của Chiêm tinh, Tử vi, Kinh dịch khả dĩ chấp nhận dưới góc nhìn khoa học có thể tóm tắt thành các Định Đề (Postulate) dưới đây:
 1- Con người sinh ra đã được tạo hóa định mã lập trình (có thể hiểu là số phận).
 2- Con người là một thực thể của vũ trụ, do âm dương kết hợp mà thành, chịu ảnh hưởng của vũ trụ trong quá trình hình thành. Mà ảnh hưởng quyết định nhất là mặt trời và mặt trăng.
3- Sự phát triển của đời người dựa trên cơ sở lập trình lúc hình thành và biến chuyển liên tục dưới tác động của vũ trụ.
4- Dấu ấn của vũ trụ và mã lập trình được xác định trong khoảng thời gian hình thành lấy thời điểm ra đời (ví dụ lấy ngày sinh) làm mốc.
Sử dụng định đề số 2, ta coi tác động của vũ trụ gói gọn lại gồm trái đất mặt trời và mặt trăng. Mặt trời là có ảnh hưởng lớn nhất, vì vậy đơn vị tính thời gian là lấy năm mặt trời, tức một vòng quay biểu kiến của quả đất quanh mặt trời. Mặt trăng tuy nhỏ hơn nhiều sao khác nhưng gần trái đất nhất, nên quỹ đạo mặt trăng (tháng mặt trăng) cũng là thông số chính yếu.
Diễn giải định đề số 4 ,chúng ta coi 9 tháng trong bụng mẹ và ba tháng sau ngày sinh là năm mà tạo hóa tạo nên hoàn chỉnh bộ mã lập trình, đánh dấu là tuổi số 0, là tuổi tiên thiên trời định.
Mấu chốt để giải mã là diễn giải định đề số 3. Theo tuổi tăng lên con người sẽ thay đổi. Những tuổi mà ở đó trạng thái của vũ trụ lặp lại trạng thái ở  tuổi tiên thiên, thì dù có tạo nên sự biến dịch, cũng vẫn là đồng dạng với mẫu hình như hóa đã ban tặng. Nói đơn giản đó là tuổi những thay đổi đã theo một khuôn mẫu như khi tạo hóa sinh ra , không biến đổi đột xuất.Ta gọi là tuổi Bình yên. Còn nếu ở tuổi mà trạng thái vũ trụ thay đổi so với trạng thái ở tuổi lúc sinh ra, thì con người cũng thay đổi không theo như ban sơ, ta gọi là tuổi Biến dịch.
 (lưu ý: Định đề này là mấu chốt để phát triển các tính toán tiếp sau đây. Nếu không thừa nhận nó thì các phần dưới đây vô giá trị)
Trạng thái  vũ trụ của một thời điểm, ví dụ tại điểm bắt đầu của năm hình thành nên con người (tuổi số1) được xác định bởi 3 điểm: Tâm mặt trời (S) , Tâm Trái đất trên Hòang đạo (E) và Tâm Mặt trăng trên quỹ đạo tháng (L) . Hết một năm mặt trời, Trái đất trở về điểm E còn  mặt trăng trở lại điểm nào đó , L’ chẳng hạn (Xem hình 1).

Hình 1

Có hai khả năng xẩy ra:
  1. Điểm L’ khác L. Trang thái vũ trụ của năm tiếp đó dĩ nhiên là khác với trạng thái năm đầu tiên, tất sẽ có những biến đổi và dịch chuyển mới , khác so với khi tạo hóa ban tặng cho ta lúc ra đời, cho nên  gọi là tuổi Biến dịch.

  1.  Cũng có thể sau một (hay nhiều năm) điểm L’ trùng hoặc gần trùng với L, năm tiếp đó có trạng thái lặp lại của năm số không. Con người phát triển là đồng dạng, tức cùng một khuôn mẫu với năm đầu tiên, như là tạo hóa đã ban cho, ta gọi là năm tuổi Bình yên

CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẬT LÝ THIÊN VĂN VÀ Y SINH HỌC

A- Xác định trạng thái Mặt trời- Trái đất-Mặt trăng.
Mặc dù con người có thể đo đạc và tính toán chính xác đến từng giây, từng mét từng radian tọa độ vũ trụ của của Mặt trời, Mặt trăng , nhưng ở đây ta chỉ cần dùng đến các quy luật thiên văn chính xác đến ngày mặt trời (Solar day) hoặc ngày thiên văn (sidereal day) là đủ . Vị trí của trái đất so với mặt trời được đặc trưng bởi quỹ đạo trái đất quanh mặt trời, là năm mặt trời. Một năm mặt trời có 365,2425 ngày. Con số về ngày tháng Dương Lịch (ngày tây) là chỉ thị gần đúng vị trí của trái đất trên quỹ đạo . Vị trí của trái đất và mặt trăng quay quanh  trái đất so với mặt trời được xác định bởi quỹ đạo của mặt trăng quanh trái đất (có tính đến sự dịch chuyển của trái đất quanh mặt trời) , tức là tháng mặt trăng. Một tháng mặt trăng có 29,53059 ngày. Vị trí của mặt trăng trên quỹ đạo chính là ngày tháng lịch mặt trăng (như lịch của đạo Hồi). Lịch ta là âm dương lịch, cho nên ngày ta thì không chính xác hoàn toàn vì lịch ta đã hiệu chỉnh theo lịch mặt trời bằng cách tính năm nhuận.
Quan sát bầu trời, đo đạc ngày tháng, các nhà thiên văn đã khám phá ra:
a)     Chu kỳ 19 :  19 năm mặt trời =235 tháng mặt trăng, sai số chỉ 0.003. Nói một cách gần đúng dễ hiểu là trạng thái của bộ ba Mặt trăng-Trái Đất-Mặt trời cứ 19 năm lặp lại như cũ. Chu kỳ này khá chính xác , hơn 4 trăm năm mới lệch một ngày, cho nên trong cõi trăm năm người đời có thể coi là trùng lặp tuyệt đối. ( Vì lý do này mà trong lịch pháp , cứ 19 năm dương lịch thì trong 19 năm âm lịch tương ứng phải có 7 năm gồm 13 tháng , tức là 7 năm nhuận). Chu kỳ này có tên là Chu kỳ Meton , đặt theo tên người Hy lạp đã khám phá ra (Meton of Athen ,năm 440 trước CN). Chu kỳ Meton  là do  hai tiểu chu kỳ (chu kỳ con) gần đúng cộng lại:
b)     Tiểu Chu kỳ 8 (octaeteris) :  8 năm mặt trời = 99 tháng mặt trăng , sai số 1,5 ngày, có nghĩa là cứ 5 năm thì lệch 1 ngày. Tiểu Chu kỳ này ta đặt tên là chu kỳ ÂM.
c)     Tiểu chu kỳ 11:  11 năm mặt trời =136 tháng mặt trăng, sai số 1,5 ngày, tức là cứ 7,3 năm lêch 1 ngày. Ta đặt tên tiểu chu kỳ này là Chu kỳ DƯƠNG.
(Lý do gọi là DƯƠNG hay ÂM xin xem đoạn sau)
Để cho dễ hiểu, nói một cách gần đúng thô sơ, trạng thái của vũ trụ được xác định bời ba con số: Năm Dương Lich, Ngày Dương Lịch (ngày Tây) và Ngày Âm Dương Lịch (ngày  Ta). Ví dụ ngày tết nguyên đán Ất Mùi (1/1) năm nay là  19/2/2015 , 19 năm sau tết Giáp dần cũng là ngày 19/2/2034, còn tết Bính tí 19 năm trước cũng là ngày 19/2/1996. Có nghĩa là trạng thái vũ trụ các năm này lặp lại nhau. Nhưng mà 19/2/2014 chỉ chệch một năm so với 2015 thì lại là ngày 20/1 Giáp Ngọ. Trạng thái vũ trụ không lặp lại. (Các chu kỳ 8 và 11 thì con số không hoàn toàn trùng như vậy vì năm nhuận chỉ hiệu chỉnh theo chu kỳ 19). Rất thú vị là liên hệ của ba chu kỳ 19=8+11
B- Số phận của con người do Mặt trời định sẵn?[4]
Trong một nghiên cứu chưa từng có, các nhà khoa học Na Uy phát hiện, những người sinh vào các thời điểm Mặt trời bình lặng có thể sống thọ hơn khoảng 5 năm so với những người chào đời lúc Mặt trời hoạt động mạnh mẽ.
Kết luận trên được rút ra khi nhóm nghiên cứu xem xét các dữ liệu nhân khẩu học của những người Na Uy sinh ra trong khoảng 1676 - 1878 cùng với các kết quả ghi nhận quan sát về hoạt động của Mặt trời.
Các chuyên gia nhận thấy, tuổi thọ của những người sinh ra trong các giai đoạn hoạt động tối đa của Mặt trời (đặc trưng bằng các trận phun trào dữ dội) tính trung bình thấp hơn 5,2 năm so với những người chào đời vào thời điểm hoạt động của Mặt trời giảm tới mức tối thiểu.
Theo báo cáo nghiên cứu trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B, hoạt động của Mặt trời lúc chào đời làm giảm khả năng sống sót tới khi trưởng thành của con người.



Hình 2: Hoạt động của Mặt trời theo ghi nhận của Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA)trong giai đoạn từ năm 1850 - 2014. có chu kỳ 11 năm. Trên đồ thị là số liệu 100 năm .Ảnh: NASA

Mặt trời có các chu kỳ hoạt động kéo dài xấp xỉ 11 năm, bắt đầu từ một thời điểm hoạt động cực điểm này tới thời điểm hoạt động cực điểm tiếp theo (Hình 2).
Thống kê còn cho thấy, 11 tuổi là tuổi mà các trẻ nam hết thời kỳ trẻ con (baby), chuyển sang phát triển giới tính nam
Vì vậy chu kỳ 11 năm được gọi là chu kỳ Dương, biểu hiện cho giới tính Nam.

C-Ảnh hưởng của mặt trăng
Mặt trăng tuy nhỏ hơn mặt trời nhưng gần trái đất hơn nên ảnh hưởng của mặt trăng tới trái đất mạnh hơn mặt trời. Ảnh hưởng của mặt trăng tới trái đất có tác động không nhỏ tới hoạt động sống của con người. Điều ai cũng biết là chu kỳ mặt trăng xác định chu kỳ kinh nguyệt của nữ giới.

Hinh3: 8 pha của mặt trăng
Sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời lên mặt trăng cũng thay đổi theo từng thời kỳ,gọi là các Pha của mặt trăng. ( Hình 3) . Tất cả những thay đổi ấy đều được phản ánh trong cơ thể sinh vật và con người. Não phản ứng rất nhạy bén trước những biến đổi đó, gây hàng loạt biểu hiện về tinh thần. Các nhà khoa học khẳng định rằng những ngày trăng non tác động khác với những ngày  trăng tròn. Các nhà y học cổ Tây Tạng còn cho rằng: Các bệnh nguy hiểm như tai biến mạch máu não, bại liệt, động kinh, nhồi máu cơ tim, tâm thần kích phát thường xảy ra vào các ngày 4, 8, 11, 15, 22, 29 tháng âm lịch. Dù chưa khẳng định đúng sai, nhưng ảnh hưởng của trăng là rất lớn và đặc biệt là phụ thuộc vào 8 pha của chu kỳ mặt trăng.
Một thống kê đã được khẳng định là năm thứ 8, các em gái bắt đầu phát triển giới tính nữ. Vì vậy chu kỳ 8 năm là dành cho mặt trăng, cho nên gọi là Chu Kỳ Âm, biểu hiện cho giới tính  Nữ.

THỬ GIẢI MÃ SỰ LẬP TRÌNH CỦA TẠO HÓA CHO BẠN.

Vậy là con người sinh ra (năm số1) tiếp theo tám năm biến dịch thì đến tuổi (hầu như)bình yên đầu tiên, 8 tuổi, cũng là hết một chu kỳ Âm. Hai năm Biến dịch nữa (9,10) sang năm 11 tuổi lại (hầu như) Bình yên, hết một chu kỳ Dương. Năm 19 tuổi là hoàn thành chu kỳ Meton = ÂM+DƯƠNG, là tuổi (tuyệt đối) Bình yên, âm dương hài hòa. Có thể  xác định Tuổi Bình yên (tính chất  chung cho các tuổi  “hầu như” hoặc “tuyệt đối” Bình yên) của đời người theo công thức :
         TUỔI BÌNH YÊN= A x 8 + D x 11 , trong đó A và D là những số nguyên dương.
Những tuổi còn lại, không thể khai triển được như trên  là Tuổi Biến dich .
1- Khi nào thì bước vào tuổi già tự nhiên?
Trong trăm năm đời người thì có đến 66 năm là  Bình yên , đó là các tuổi:
8,11,16,19, 22, 24, 27, 30, 32, 33, 35, 38, 40, 41, 43, 44, 46, 48, 49, 51, 52, 54, 55, 56, 57, 59, 60
62, 63, 64, 65, 66, 67, 68
70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100.
Trong 66 năm bình yên này có thể chia làm ba đoạn:
8-60 có 27 năm khá rời rạc, là đoạn tuổi trẻ và trung niên
62-68 có 7 năm liên tục, là đoạn cao niên
70 -100 có 32 năm (và tiếp nữa) liên tục là đoạn tuổi già
Tuổi 69 là tuổi đặc biệt, vì đó là năm biến dịch cuối cùng. Sau đó là mãi mãi bình yên ,già dần.
Vậy khi 70 tuổi là bước vào Tuổi già trời định . Từ 69 về trước là tuổi trẻ. trung niên và cao niên, gọi chung là tuổi Tráng Niên (tuổi còn khỏe mạnh)
2- Những năm tháng đẹp của tuổi Tráng niên
Nói chung , những năm bình yên trong tuổi hoa niên là những tuổi ít nhiều đều đẹp, ít phải lo lắng.
Tuổi Bình yên phân thành Tuổi Âm thịnh , Tuổi Dương thịnh và Tuổi Hài hòa
D-A >0: Tuổi Dương thịnh;     D-A < 0: Tuổi ÂM thịnh ; D-A=0 : Tuổi Hài hòa
Đối với cả hai giới những tuổi hài hòa đều thuận lợi: 19, 38, 57
Đối với Nữ giới các tuổi âm thịnh là thuận lợi: 8, 16, (19), 24, 27, 32, 35, (38), 40, 43, 46, 48, 51, 54, 56, (57), 59, 62, 64, 65, 67.
Tuổi Đẹp nhất cho Nữ  là các tuổi thuần âm: 8,16, 24, 32, 40, 48, 56, 64
Với Nam giới các tuổi dương thịnh là có ưu thế hơn: 11, (19), 22, 30, 33, (38), 41, 44, 52, 55, (57) 63, 66, 68
Tuổi Nam nhi rực rỡ nhất là các năm thuần Dương: 11, 22, 33, 44, 55, 66
3- Tuổi nào thì cần phải cẩn thận
Các tuổi biến dịch không phải là hoàn toàn xấu, vì không có các sự biến dịch bổ sung thêm vào sự sắp xếp của tạo hóa thì con người không phát triển đa dạng được. Tác động của môi trường, ngoại cảnh, nội lực, ý chí…cũng không thể có. Tuy nhiên có sự biến đổi mạnh thì cũng phải cẩn thận hơn.
Trong các Tuổi biến dịch cũng có thể định lượng được sự Biến dịch bằng một số đo gọi là mức biến dị, . Theo quy luật Vật lý , với cùng một mức độ thay đổi , nếu chuỗi biến dịch liên tục càng dài thì thì độ biến dị càng thấp. Vì nếu có xẩy ra ở một điểm thì sự biến dịch liền sau có thể  sửa chữa lại.Vậy độ dài của chuỗi tuổi biến dịch liền nhau đặc trưng cho mức biến dị. Chuỗi càng ngắn thì tác động của mức biên dị càng lớn. Còn những tuổi biến dị  đơn độc nói chung là dễ có những đột xuất đáng ngại của đời người, vì một khi có biến dị xẩy ra thì không có chu trình biến dị liền kề để điều chỉnh mà phải chờ đến năm biến dịch gần nhất mới có cơ hội điều chỉnh.
Những năm đáng ngại đó là: 23, 31, 34, 39, 42, 45, 47, 50, 53, 58, 61, 69
Rõ ràng là mức độ đáng ngại của năm đơn độc càng tăng lên khi mà khoảng cách tính đến năm biến dị gần nhất (gọi là khoảng cô đơn) càng dài. Theo cách đó thì:
Năm Hạn: 53, 61, 69 . Do mức biến dị lớn nên 53 là năm Hạn nặng vì là năm bắt đầu có thay đổi đột biến mạnh nhất ở tuổi trung niên. Tuổi 61 và  đặc biệt 69 là nguy hiểm cho người cao niên, vì là tuổi cuối cùng của đời người có đột biến.
Năm có nguy cơ: 31, 39, 42, 47, 50, 58
Năm lưu ý: 23, 34, 45
Ngoài ra, có thể xác định đoạn tuổi nguy cơ, đó là khoảng mà hai năm có nguy cơ cách nhau gần nhất (chỉ có hai năm).
Đoạn tuổi nguy cơ: 39-42 và 47-50



4- Các cột mốc của tuổi già
Từ sau tuổi 69 là chuổi tuổi bình yên liên tục , mọi thứ mà tạo hóa đã ban tặng sẽ suy giảm (già đi) đều đều theo khuôn mẫu trời định lúc chào đời  mà không đột biến. Tuy vậy cũng có những cột mốc đáng lưu ý.
Đối với cả  cụ Ông và Cụ Bà:
Mốc người già trở thành như con trẻ, 88 tuổi là đạt điểm đặc biệt, đó là điểm đồng thời thuần ÂM (tổ hợp 11 chu kỳ Âm) hoặc thuần Dương (tổ hợp 8 chu kỳ Dương) , không phân biệt, giống như khi mầm sống nẩy sinh. Người già cũng có thể đổi tính lại như con trẻ: hờn dỗi, đòi hỏi thất thường...
Các mốc Âm-Dương hài hòa 76 và 95 cũng đáng chú ý.
Ở ba mốc dị thường này có thể rất tốt cũng có thể rất xấu.
Đối với cụ Ông
Mốc đáng ngại đầu tiên là 72 vì là hậu quả của năm nguy hiểm 61. Tiếp sau là mốc hài hòa 76, thuần Dương 77. Mốc 80 là nguy hiểm ,vì đó là hệ lụy một chu kỳ dương của tuổi nguy hiểm 69. Nếu vượt qua được các mốc dị thường  88, 95 thì hy vọng đạt 99 thuần Dương, vượt qua được thì trường thọ trên trăm tuổi.
Đối với cụ Bà
Mốc 77 là nguy hiểm vì là hệ lụy của tuổi nguy hiểm 69. Nhưng 76 và 77 cũng là hai mốc dị thường , có xấu có tốt, nên 77 có thể là rất nguy hiểm cũng có thể không. Tiếp sau đó chỉ còn là các mốc dị thường. Vì chỉ cụ bà chỉ có một mốc nguy hiểm, còn cụ ông thì có 2, cho nên nói chung cụ Bà sẽ sống thọ hơn cụ Ông cũng là trời định !
5- Chu kỳ Tâm-Sinh lý
Một lẽ hiển nhiên là Tâm-Sinh lý cũng phát triển theo các chu kỳ phát triển của con người. Tâm sinh lý ở chu kỳ một là trung tính (baby). Giới tính hình thành và phát triển hoàn thiện ở chu kỳ 2, tức 8-16 tuổi ở Nữ và 11-22 tuổi ở Nam. Ở giữa chu kỳ thứ hai này, nữ thập tam (13), nam thập lục (16) đều dậy thì. Muốn có hòa hợp Tâm-Sinh Lý thì tốt nhất là Nam-Nữ cùng chu kỳ phát triển. Ví dụ lấy nhau ở chu kỳ 3, nữ trong khoảng 17-24 mà kết hôn với nam trong khoảng 22-33 là hợp lẽ trời nhất. Theo nguyên lý đó thì :
Nữ 25-32 hợp với Nam 34-44
Nữ 33-40……….. Nam 45-55
Nữ 41-48………   Nam 56-66
Nữ 49-56………   Nam  67-77
Nữ 57-64………   Nam  78-88
Cũng có vẻ buồn cười nhưng đúng là thống kê y học chứng minh rằng, ở tuổi Nữ 64 và Nam 88, tức chu kỳ 8 của đời người, thì hoạt động sinh dục mới dừng hẳn.

THAY LỜI KẾT
Luận thuyết trình bày trên đây là dựa trên cơ sở tính toán khoa học, không mang chút nào tâm linh, huyền bí gì cả. Một luận thuyết khoa học có đúng không , cần phải qua kiểm chứng độc lâp. Ít nhất nó cũng phải giải đoán được những điều đã biết và tiên đoán được những điều chưa biết để tiếp tục kiểm chứng.
Dân gian có câu: 49 chưa qua 53 đã tới, hay Nữ thập tam Nam thập luc. Luận thuyết nêu trên đây lý giải được tuổi cả hai khá tốt. Còn tuổi 49 dân gian cũng cho là hạn, thì tạm lý giải trong khoảng 47-50. Mà thực sự thì tuổi hạn 49 cũng du di trên thực tế.
Trong khoảng 53, 61,69 (có tính đến sai số)  thì người ta nhận thấy có nhiều người từ trần ốm đau, bệnh tật nhất.

Ví dụ như biểu đồ NGHIÊN CỨU TỬ VONG DO UNG THƯ VÚ TẠI CÁC TỈNH BẮC NINH, LÂM ĐỒNG, BẾN TRE NĂM 2008[5]. Ta thấy rõ tỷ lệ tử vong rất cao ở độ tuổi 50-60 là tuổi có biến dị lớn nhất
Các tiên đoán ở các tuổi Biến dị , Cô đơn, hoăc Bình yên khác có lẽ cần được kiểm chứng bằng các số liệu thống kê khoa học, xem có đúng không. Đây chỉ là những kết quả ở cấp  gần đúng thấp nhất. Khi nâng cao cấp gần đúng và độ phân giải , lưu ý cả không thời gian sinh ra của từng người, ta có thể dự đoán đến chi tiết hàng tháng , hàng ngày.. của từng cá thể riêng biệt. Nhiều điều bất ngờ dự đoán quy luật tương lai từng người trên cơ sở khoa học đang được chờ đợi.
Có rất nhiều dữ kiện đã được tiên đoán, hy vọng mọi người có thể tự kiểm chứng đúng sai và phản biện lại.
Nhân dịp đầu xuân, góp chuyện cho vui, ai tin thì tin, không tin thì thôi, xin đừng bận tâm !



 BÀI ĐÃ ĐĂNG RÚT GỌN TRÊN "Tia Sáng" , số xuân Ất Mùi ra ngày 5/2/2015 ,trang 45-49
BẢN WEB NÀY LÀ BẢN ĐẦY ĐỦ




[2] Theo cách hiểu kinh điển: Tiên đề (Axiom) là nguyên lí xuất phát của ngành khoa học, Định đề (Postulate) là nguyên lí xuất phát của một lí thuyết cụ thể.
[3] “Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng nghi, nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái định Cát hung, Cát hung sinh Đại nghiệp.”

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

Lên Ải Bắc (phần cuối)



Thứ Sáu, ngày 14 tháng 3 năm 2014


LÊN ẢI BẮC - Ký sự của TS. XUÂN HOÀI ( Phần cuối)


Xứ Lạng một buổi trưa mùa xuân
                                                            Bài và ảnh:  Xuân Hoài 


Ts.Xuân Hoài
Rời Khánh Khê , thắp được nén hương ở đài kỷ niệm, cũng thấy đỡ nặng lòng hơn ,để về Lạng Sơn. Tuy vậy , không tìm được nơi quy tập mộ các LS hy sinh ở đây , vẫn thấy  áy náy. Nhất là mấy đứa TSQ khu 4 , như Khoa Phi, Uy Liêm, Hồng Nhật và tôi , vì chúng tôi biết , trong số 635 liệt sĩ của Sư đoàn 337 ngã xuống nơi đây , có rất nhiều đồng hương của mình . Sư đoàn 337 là của quân khu 4, được điều gấp trong 5 ngày ra đây đánh trận này. Các anh ở lại nơi nào , có được về với quê cha nghèo mẹ khổ không !
Chúng tôi đến viếng nghĩa trang liệt sĩ thành phố Lạng Sơn , nơi quy tập các liệt sĩ của địa phương suốt các thời kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp, Mỹ và Trung quốc.
 Có một ngôi mộ hình tháp đặc biệt nằm riêng biệt. Đến gần đọc mới biết đây là nơi yên nghỉ của một người bạn Nhật , nhà báo Y SAO  TAKANO, báo Akahata, hy sinh tại thị xã Lạng sơn ngày 7/3/1979. Nguyệt Ánh kể cho biết khi làm cuốn phim nổi tiếng “ Thị xã trong tầm tay “đạo diễn Đặng nhật Minh , anh ruột của Nguyệt Ánh, vừa là đạo diễn đồng thời cũng thủ vai nhà báo này.
Chúng tôi chia nhau đi thắp hương trên mồ các Liệt sĩ , đặc biệt khu mộ các liệt sĩ hy sinh năm 1979 và về sau đều nằm ở phía ngoài , gần lối vào nên có lẽ chúng tôi thắp được gần hết. Hương hoa được Hà , Bích Ngân, Thu Giang cẩn thận chuẩn bị từ Hà Nội . Vào nhà Bia ghi tên các Liệt sĩ mới thấy hết sự mất mát ,hy sinh của dân tộc ta  lớn chừng nào. Chỉ một thị trấn, bây giờ là Thành Phố Lạng Sơn thôi mà có đến hàng ngàn liệt sĩ có tên tuổi, còn bao nhiêu người liệt sĩ vô danh  nữa nằm rải rác khắp đất nước. Không biết ai đó đã phát hiện thấy có một chuyện nhỏ nhưng không bình thường , đó là các liệt sĩ trong hai cuộc chiến tranh chông Pháp ,Mỹ thì ghi rõ ràng là Liệt sĩ chống Pháp, chống Mỹ . Còn liệt sĩ hy sinh năm 1979 và về sau thì chỉ ghi là liệt sĩ bảo vệ TQ. Mọi người tỏa ra xem, thì thấy tất cả bảng ghi tên liệt sĩ của các phường thuộc TP Lạng Sơn đều ghi như vậy , có vài bảng thì ghi rõ hơn là liệt sĩ bảo vệ tổ quốc chứ không viết tăt là TQ.

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Lên Ải Bắc (phần II)


LÊN ẢI BẮC - Ký sự của TS. XUÂN HOÀI . ( Phần II )

Dọc đường Biên cương
Ghi chép của XH

Mờ sáng 28/2/2014 , chúng tôi lên xe rời TP Cao Bằng. Trong ánh mờ sương ban mai , xe chạy dọc tường thành Cao Bằng. Thành khá cao và dài , một bên vốn là sông Bằng Giang, thế nhưng nay rẻo đất hẹp giữa tường thành và sông , nhà cửa lều quán chen gần hết, chỉ thỉnh thoảng có một khoảng trống , nhìn thấy dòng sông cạn khô , có ít nước đang chảy về phương Bắc. Cụ Ngô Trí Hưng (K4) suốt ngày hôm qua ngồi lặng lẽ và mất dạng trong buổi chiều hôm, bây giờ mới lên tiếng “giải trình”. Khi vừa đến KS, sở dĩ hai cựu chiến binh Ngô Trí Hưng và Nguyễn Bá Tuân vội chạy ra bờ sông Bằng Giang này, là sợ trời tối mất. Nguyên Ngô Trí Hưng , sau khi ở Quế Lâm về, học hết lớp 7 thì do hoàn cảnh gia đình phải thôi học, đi học nghề và gia nhập quân đội năm 1961 . Có lẽ đây là một trong những người lính đầu tiên trong hội LSQL ta, không biết Quang Trung và Huy Châu nhập ngũ năm nào nhỉ , chắc là khoảng 1962-1964 gì đó. Những năm 63-64 , Trí Hưng là lính lái đại xa của TC Hậu Cần , đóng ở Cao bằng , bên bờ Bằng Giang này. Hưng rủ bạn là Bá Tuân (K4), cựu chiến binh và thương binh , nguyên là lính bảo vệ TƯ Cục Miền nam ở Tây Ninh , chạy ngay ra bờ Băng Giang để tìm lại chốn xưa. Thật là cảm động, trên xe im phăng phắc, một ai đó lên tiếng “có tìm được không”.“Bến sông thì vẫn như xưa, tuy vẫn nhận ra , nhưng cảnh và người thì chẳng còn dấu tích, khác hẳn rồi.Xưa bờ sông rộng, xa xa chỉ vài ngôi nhà lá thôi, còn bây giờ thì..”.Lại im lặng..Tôi hỏi, sau những năm đó cậu làm gì? “ Thì lái xe đi khắp mọi con đường, chiến trường nam bắc. Đóng lại ở miền Nam và xuất ngũ không quân hàm cấp bậc vào năm 1981. Nhưng tính ra do tính cả độ nguy hiểm , độc hại ..vẫn đủ 25 để hưởng mấy đồng bạc còm trợ cấp hưu trí , lúc 42 tuổi. Các anh biết rồi đó, hưu trí của lính trơn từ những năm đó là bao !". Một ai đó lên tiếng , nhưng Hưng là giáo viên Toán nổi tiếng mà ? Đúng thế , cuộc mưu sinh đời thường khiến tôi trở thành một giáo viên luyện thi Toán cấp hai nổi tiếng Hà nội, nhiều khi phải từ chối học sinh. Cũng là do tự học và sự giúp đỡ của thầy Hàn Liên Hải ,dạy toán chúng ta hồi Quế Lâm.Và , điều ngạc nhiên nữa, Ngô Trí Hưng, với nhiều cảm xúc và nỗi thăng trầm của cuộc đời , đã kết đọng lại trên đầu ngọn bút và trở thành một nhà văn lúc nào không biết. Đến nay , Hưng đã có 5,6 đầu sách , tuyển tập đã xuất bản.Và cảm động hơn nữa, người động viên và đỡ đầu Hưng viết lách chính là nhà văn nổi tiếng  Nguyên Kiên, tức thầy Hưởng phụ trách thiếu nhi khăn đỏ của chúng  ta ngày xưa đó. “Xin tặng các bạn tuyển tập truyện ngắn gần đây  nhất của tôi, do nhà XB lao động ấn hành 2010”. Thế là cả hội LSQL ồ lên, nhận quà và Hưng phải ký tặng mỏi tay. Cuộc đời thật kỳ lạ , phải không ? Nguyễn Bá Tuân ngồi cạnh thì thầm, trợ cấp thương binh của tôi được 1 triệu, đủ cho tôi mỗi năm mua vé 3 lần ra Bắc. Khi nào có chuyến đi đâu, các anh nhớ gọi tôi. Vâng ,tất nhiên rồi , chúng ta là gia đình LSQL mà ! Thật là ý nghĩa khi đoàn hành hương  có hai cựu chiến binh cùng tham gia để thắp nén hương cho đồng đội đã ngã xuống trên chiến trường chống Trung quốc xâm lược , 35 năm trước. Ai có thể quên, có thể giấu , nhưng chúng tôi, tất cả gia đình LSQL chúng tôi không bao giờ lãng quên !

Trời sáng rõ. Đường số 4a Cao Bằng Lạng Sơn chạy giữa khe núi dọc theo biên giới Việt Trung. Phía bắc là những rặng núi đá vôi cao sừng sững như bức trường thành. Cứ nghĩ , không hiểu làm sao mà quân TQ lại bất ngờ đưa được cả xe tăng vượt núi vào đây. Anh lái xe của đoàn, vốn là cựu chiến binh năm 79 kể cho cả đoàn nghe rằng có nơi quân TQ dùng tời thả xe tăng trên núi xuống. Giá mà hồi ấy iphone ,Ipad thịnh hành như bây giờ thì có khối ảnh minh chứng. Và cũng phải nói thêm rằng, đội quân thứ 5 của TQ rất thiện nghệ. Họ đã nằm vùng từ lâu, lòng sông ,khe suối, đường mòn nào cũng thuộc lòng , cho nên ngay giai đoạn đầu, từ ngày 17 dến ngày 28  hôm nay 35 năm trước quân Trung Quốc đã chiếm được các thị xã Lào Cai, Hà Giang ,Cao Bằng, và một số thị trấn như Đông Khê cách Cao Bằng 50 km trên đường 4a, nơi chỉ còn mấy phút nữa chúng tôi sẽ dừng chân.

LÊN ẢI BẮC - Ký sự của XUÂN HOÀI ( phần 1)



Thứ Ba, ngày 04 tháng 3 năm 2014




ĐƯỜNG LÊN ẢI BẮC MÙ SƯƠNG
                                                                 Ghi chép của Xuân Hoài 
Mông mênh miền biên giới
Rầu rầu nghẹn tiếc thương
 Lom khom nấm mộ cỏ
Rõi rõi theo dọc đường 

                       (Thơ Song Thu)
Ngồi trước màn hình , nhiều cảm xúc quá , mãi mà chưa biết bắt đầu viết về chuyến hành hương như thế nào thì nhận được email của Song Thu : “… anh vào Blog em đọc thơ thẩn của em nhé!”. Bài thơ dài man mác, các bạn vào “Hoa sim tím” mà đọc nguyên văn. Với tôi , chỉ hai mươi chữ này thôi , đã đủ lay động lòng người, đã nói giùm cả con đường biên giới mông mênh, chứ không phải mênh mông đâu, mênh mông là trời biển kia…còn đây là con đường biên giới len lỏi giũa những đèo cao,vực sâu , khe núi hẹp , lên rồi lại xuống mông mênh, bồng bềnh trên mây ngàn , dập dình theo bánh xe lăn , chênh vênh như lòng người hành hương lên ải bắc mù sương. Ai đó lại hỏi , sao lại nói là lên ải Bắc. Đúng quá bạn ơi. Đích đến hôm nay là Cao Bằng. Thành lũy ở Cao Bằng đã từng  là hoàng cung của một quốc gia. Nhiều giả thuyết cho rằng Cao Bình xưa đã từng là cố đô của Thục Phán nước Âu Việt- về sau hợp nhất với Lạc Việt của Vua Hùng ,thành An Dương Vương, vua nước Âu Lạc, thiên đô về Cổ loa. Đến đời nhà Lý năm 1038 Nông Tồn Phúc cát cứ vùng này, xưng đế hiệu, đặt tên nước là Trường Sinh. Năm sau, vua Lý Thái Tông thân chinh dẹp yên, nhưng đến năm 1041 con Nông Tồn Phúc là Nông Trí Cao lại dấy binh, đặt tên nước là Đại Lịch, vua Lý Thái Tông sai tướng lên đánh bắt được đem về Thăng Long, rồi dùng chính sách chiêu an tha cho về phong làm Quảng Nguyên mục, sau gia phong tước Thái Bảo. Năm 1048 Nông Trí Cao xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Nam, đem quân sang đánh nước Tàu, chiếm 8 châu ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhà Tống phải cử tướng Địch Thanh thảo phạt. Bị thất bại, Nông Trí Cao chạy trốn sang nước Đại Lý và bị bắt giết. Hơn bốn trăm năm sau, Nhà Mạc bị nhà Lê đánh đuổi cũng rút lên đây, nhà Mạc lập cung điện tại Gò Long trong thành Nà Lữ của Nông Trí Cao. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: "Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế. …Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng" (theo Đại Việt sử ký toàn thư - NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294). Đại Việt và vùng Cao Bằng bất đắc dĩ đã là hai quốc gia, nên quân lính Việt lên Cao bằng là lên nơi biên ải, có câu ca não nuột khi anh lính chia tay vợ con: Con cò lặn lội bờ sông/Gánh gạo đưa  chồng tiếng khóc nỉ non/Nàng về nuôi cái cùng con/Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.