Thứ Hai, ngày 12 tháng 9 năm 2016

Vì sao Đại Việt chưa bị Hán hóa

08:49-03/09/2016 08:49-03/09/2016 
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=9983
Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt
Trần Gia Ninh

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia
ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt. 

Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?
Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.
Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.
Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).
Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.
Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.
Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.
Sách Lộ Sử của La Bí (1131 - 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.
Hán Hóa Bách Việt - Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán
Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô - Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 - 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 - 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.
Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc - Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 - 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương(Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký - thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân - Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 - con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 - hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô - Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.
Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh - tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán
Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam... gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…
Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.
Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần - Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.
Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh - Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.
Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.
Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.
Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.
Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20“Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.
Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.
Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?
Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 - Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 - Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:
* Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.
* Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.
* Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!
Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:
* Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.
* Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.
Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:
* Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.
* Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.
* Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.
(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).
Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.
1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.
2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.
3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.
Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.
Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.
Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.
Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần... Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…
Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1

CHÚ DẪN
1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml
越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html
2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.
3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。
#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html
 The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina
5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)
6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.
8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.
9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).
10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.
11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.
12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).
13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.
14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).
#15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.
16 叶榆水-Diệp Du Thủy
17岱依人-Đại Y nhân
18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.
19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.
20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.
21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!
22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.
23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.
24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).
25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.
26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên
27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? - http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.
28 Đại Việt sử ký toàn thư - NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.

Thác Vũ Môn Hương Khê-Hà Tĩnh

THÁC VŨ MÔN -XƯA VÀ NAY

Trang sách Nghệ An Ký viết về Thác Vũ Môn

Sách Nghệ An Ký của Bùi Dương Lịch (1757  1828)  viết (trích dịch) :
NÚI: Núi Giăng Màn (khai trướng sơn) nằm trên đất hai phủ Ngọc Ma và Lâm An, là núi nổi tiếng ở Nghệ An (Nghệ An xưa bao gồm cả Hà Tĩnh bây giờ). Núi cao lớn lấn trời, trông hệt như tấm màn giăng vậy. Giữa khoảng núi rừng xanh rì buông xuống một giải trắng dài vài trăm trượng gọi là Suối (thác) Vũ Môn. Nơi đây chưa có mấy dấu chân người. Đời truyền là chỗ cá hóa rồng. Phía bắc núi là nơi bắt nguồn của sông Phố (tức Ngàn Phố bây giờ). Phía tây sông có con đường thông sang phủ Trà Lân, phủ Trấn Ninh và các mường của Ai Lao. Nước Ai Lao sang cống nước ta cũng đi theo đường này (hình như là đường số 8 bây giờ ?)…..

Phía đông núi có sông Tiêm bắt nguồn từ đấy. Sông này chứa nước của suối Vũ Môn…..

Dẫn nhập" Huyền Thoại Kim Thiếp Vũ Môn" (NXB Văn Học 2015) tác giả kể:
Lúc bé tôi thường ngồi châm đóocF   cho ông tôi hút thuốc lào, nhất là khi có khách là các cụ Đồ Nghệ đến chơi, bàn về chữ nghĩa, thì tôi phải túc trực bên cạnh. Tôi còn nhớ các cụ tranh cãi nhau đến đỏ mặt tía tai về chữ Vụ (Vũ) trong Vũ Môn. Tiếng Nghệ Tĩnh vốn dĩ chỉ phân biệt có ba thanh là huyền, sắc và thanh thứ ba thì dấu hỏi, ngã và nặng gộp làm một. Vũ hay Vụ dân Nghệ Tĩnh cũng đọc gần như nhau. Có cụ cãi rằng chữ Vũ đó chính là tên vua Vũ nhà Hạ bên Tàu. Vũ Môn nghĩa là cửa ông Vũ. Cụ này cho rằng Vũ Môn chính là Long Môn (cửa rồng) do hai ngọn núi án ngữ hai bên bờ sông Hoàng Hà làm cản dòng nước. Vua Vũ trị thủy phá cái cửa hẹp ấy đi, nên gọi là Vũ Môn. Lúc đó tôi mới tám chín tuổi, nhưng nghe cãi cũng thấy có lý. Ông nội tôi thì nói rằng phải lấy chữ Vũ là mưa mới đúng, vì nước ở thác chảy từ trên cao ngàn thước  xuống, tỏa ra như mưa quanh năm. Cửa của ông Vũ bên Tàu là trên sông rộng, thì sao mà cá phải vượt Vũ Môn. Thác Vũ Môn của ta cao những bốn, năm ngàn thướcF, lại ba cấp trên đá trơn, thì đúng là nơi khó khăn thử sức anh tài, cá chép nào vượt nổi thì mới thành rồng chứ. Còn như cửa ông Vũ bên Tàu, cá nào chẳng bơi ngược, bơi xuôi được, thì đều thành rồng cả à. Tôi nghe cũng có lý lắm. Tôi nhớ là ông tôi còn bảo, Cụ Phan cũng đồng ý như vậy, và cụ Phan còn nói “Thác Vũ Môn bên ta thì can cớ chi lại đặt tên theo tích bên Tàu”. Lúc đó tôi không biết ai là cụ Phan, sau này tôi mới biết đó là cụ Phan Bội Châu, bạn chữ nghĩa và bạn chiến đấu tâm đắc với ông nội tôi từ thưở trẻ. Hai cụ cùng lý tưởng, chí khí như nhau, cùng hoạt động cho phong trào Đông Du, Quang Phục Hội, kẻ ở trong nước, người ở Nhật. Ông tôi là người yêu nước, đã từng bị Tây bắt giam nhiều năm vào nhà lao Hà Tĩnh nên chống Tây đến độ cực đoan. Các chú tôi chơi đàn Bangjo hoặc Mandolin thì ông đuổi đi, nói đó là đàn cuả Tây, không thèm nghe. Một hôm chú tôi chơi đàn Ghita Hawaii, ông tôi thích lắm, bảo nó nghe giống như tiếng Đàn BầuF 1
Sau này học nhiều, tôi mới biết, có đến hơn hai chục chữ Vũ trong Hán Việt, lại thêm chục chữ Vụ nữa, nếu tranh cãi kiểu đồ Nghệ chắc cả đời không hết. Nhưng chữ Vũ trên bìa sách là chữ Vũ chỉ Mưa, nên chắc chắn là sách của ông tôi viết rồi.  Vì vậy nên suốt mấy chục năm qua tôi để tâm tìm kiếm những thư tịch đã bị cuộc Cải Cách Ruộng Đất làm thất tán của ông tôi, cũng như của cả một vùng văn hiến Hoan Châu xưa, rồi lần tìm thêm các truyền thuyết, thần phả, gia phả còn lưu truyền.. Ai cũng bảo vì chiến tranh ác liệt nên tan tác hết, nhưng chiến tranh không phá hủy được nền văn hiến, chỉ có con người tự phá nền văn hiến của chính mình mới tan nát đến thế.
Vừa rồi ,Anh Trần Quốc Bảo , Thường vụ Hyện Ủy, Trưởng ban tuyên giáo  Huyện Hương Khê đã tổ chức một chuyến đi lên thác Vũ Môn và đã gửi cho tác giả Huyền Thoại Kim Thiếp Vũ Môn những hình ảnh và Video do chính anh Bảo ghi lại được, với mấy dòng sau đây: 

Cháu Chào Bác 

Cháu đi Thác Vũ Môn về. Cháu đã lên đến đỉnh cao nhất của Thác. Trên đỉnh thác độ cao khoảng 1200m so với mực nước biển; đỉnh núi cao nhất sau thác khoảng 1.700m; phía sau Thác là đất Việt Nam (không phải đất Lào) rộng khoảng 500 ha. trong đó có khoảng 50 ha đất bằng ngay khu vực đỉnh Thác. Trên Thác có một dòng suối chảy về đỉnh Thác (cung cấp nguồn nước cho Thác); Nói chung là Thác rất đẹp; là cơ hội để xây dựng một khu nghỉ dưỡng.
Mời các bạn xem ảnh và Video mới nhất về thác Vũ Môn, cách thị trấn Hương Khê hơn 30 km:
Anh Trần quốc Bảo (áo trắng)  ngồi dưới chân thác



Vũ Môn ba cấp
Bàn cờ tiên

Thứ Tư, ngày 13 tháng 7 năm 2016

Thảm họa môi trường

MỘT CÁCH NHÌN KHÁC VỀ THẢM HỌA FORMOSA HÀ TĨNH

Lúc này mà nói về một cách nhìn khác của thảm họa môi trường Formosa Hà Tĩnh e rằng sẽ bị phản ứng dữ dội của tất cả mọi thành phần, phe phái trong xã hội. Mọi quan điểm đánh giá của các phía : Nhà nước, Doanh nghiệp, Những nhóm xã hội kể cả cá nhân  là đối nghịch và không thể dung hòa. Họ đều tuyên bố là vì người dân, vì biển ,vì môi trường. Những thực thể này thì về bản chất là câm nên không thể lên tiếng tự bảo vệ được. Bài viết liều mạng này không chống , không ủng hộ ai , không vì cái gì cả mà hoàn toàn là nhìn từ ngoài vào trên góc độ hoàn toàn khoa học cả tự nhiên lẫn xã hội. Xin độc giả cố đọc hết rồi hãy đánh giá.
1-    FORMOSA và môi trường
a)    Ngành nghề sản xuất kinh doanh
Formosa Hà Tĩnh là một doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực Nhà máy điện, Cảng biển và Sắt thép. Đó đều là những ngành cổ điển, hữu ích và tối cần thiết cho xã hội. Đối với môi trường thì Cảng Biển, Nhà Máy điện và Nhà máy sắt thép tổng hợp (Cốc hóa, luyện sắt, chế thép) là nguy hại, phải cảnh giới ở mức độ đỏ (cao nhất). Trên thang điểm ô nhiễm môi trường (Pollution Index Score-100 là cực đại) thì  Cốc hóa 70 (bẩn như chế tạo sơn, bột màu; sạch hơn Xi măng 75, Khách sạn 75); Cảng biển 85, Nhiệt điện 85 (sạch hơn lò mổ thịt 87,5), Luyện sắt thép 90 (bẩn như tái chế giấy cũ, sạch hơn Hóa dầu 95, Giấy và Bột giấy 95, Công nghiệp dược phẩm 95..)[1]. Như vậy , về nguyên lý công nghiệp, FORMOSA Hà Tĩnh rõ ràng gây ô nhiễm lớn với môi trường , nhưng  chưa tác hại bằng Dung Quất, Nghi Sơn, Bãi Bằng, Giấy & Bột giấy Hậu Giang.
b)    Công nghệ và khả năng ngăn chặn ô nhiễm
Luyện sắt với than cốc là công nghệ cổ điển gần hai thế kỷ rồi, mới cũ không hơn kém nhau bao nhiêu. Các nhân tố gây ô nhiễm đã biết, khả năng xử lý ô nhiễm đã có sẵn , rất hiệu quả, không quá tốn kém, thế giới đã biết và bắt buộc thực thi từ lâu[2] . Vì thế , hàng ngàn đại nhà máy sắt thép nằm trên bờ biển đã và sẽ vẫn tồn tại và phát triển trên khắp thế giới.Vấn đề là ở chỗ người quản lý nhà nước có biện pháp bắt buộc doanh nghiệp tuân thủ quy định về môi trường hay không. Cái gì gây tốn kém cho doanh nhân mà không bị bắt buộc hoặc kiểm soát thì 99,9% các doanh nhân không tự vẽ việc ra để làm, thiên hạ là như vậy cả.
c)     Các đơn vị Formosa Hà Tĩnh và thủ phạm gây ra thảm họa môi trường biển 4/2016
·       Nhà máy nhiệt điện Formosa Vũng Áng 650MW, hoạt động từ 3/2015, cho đến trước khi cá chết đã được 01 năm. Khó là thủ phạm chính.
·       Cảng sâu Sơn Dương : Cảng hoạt động từ 2001 (Việt Lào) đến nay đã có 5 bến hoạt động (không phải của Formosa). Các bến của Formosa (6 bến) đang xây dựng. Không có khả năng là thủ phạm chính.
·       Lò cao: Nước thải từ khâu sản xuất này không lớn, về lý thuyết chỉ khoảng 0,2m3 /tấn gang trong đó chứa khoảng 10g chất rắn lơ lửng, 20g dầu, 1g cyanide và 2g kim loại nặng. Vậy lò cao có thể nhưng hiện chưa phải là thủ phạm chính
·       Nhà máy luyện Cốc Formosa hoạt động 11/2015, 5 tháng trước khi cá chết.
Nghi ngờ là một trong những thủ phạm chính, vì công nghiệp này có phát thải Phenol và Cianite (về lý thuyết là 150–2,000 mg/l Phenol tức 0.3–12 kg/t coke, và Cyanite 0.1–0.6 kg/t coke )[3] trùng hợp với việc trong cá chết, nước biển  có dấu vết Phenol và Cyanite. Các kỹ thuật ngày nay không khó để xử lý về ngưỡng an toàn Cyanide (free) 0.03, Phenol 0.15 (đơn vị grams/tone coke). Vậy tại sao lại xẩy ra thảm họa cá chết?
Formosa có công suất 10 triệu tấn thép, ít nhất phải dùng đến hơn 4 triệu tấn coke. Vì Formosa mới sử dụng ¼ công suất lò luyện coke [4] nên công suất hiện cỡ 1 triệu tấn năm, mỗi năm tối đa sản sinh 5000 tấn Phenol , tối thiểu 125 tấn (tùy thuộc vào nguyên liệu đầu vào và công nghệ luyên). Như vậy về nguyên lý, Formosa mỗi ngày thải ra tối đa 13,5 tấn , tối thiểu 0,35 tấn Phenol  . Cho rằng nước thải không được xử lý, công nghệ và nguyên liệu của Formosa tệ nhất thế giới, đồng thời Phenol không phân hủy thì lò coke của Formosa đã giết chết cá từ lâu chứ không phải đã chạy được 5 tháng an toàn. Như vậy đánh giá của các nhà khoa học VN vừa qua là hợp logic, rằng đây là một sự cố cấp tính do hai yếu tố: i) Hệ xử lý nước thải không hoạt động một thời gian ngắn , và ii) có thêm một chất thải khác (hydroxyt sắt…) được đổ vào đồng thời làm Phenol không phân hủy được. Tuy vậy ,cũng thấy chưa thật ổn ,vì tối đa 4, 5 ngày mất điện cũng chỉ có 50 tấn Phenol (nên nhớ Phenol không phải quá độc), với dòng sông hay hồ nước còn khả dĩ giết chết sinh vật , đây là ở biển rộng, sóng to gió lớn, lượng Phenol như vậy chưa thấm gì, có thể đặt dấu hỏi liệu ngoài Hydroxyt sắt (không độc lắm) còn có chất độc cấp tính mạnh nào nữa không ? Cianua cũng rất độc, nhưng phân hủy nhanh trong biển nên riêng từ lò coke là chưa đủ, phải đổ cấp tập thêm một lượng rất lớn mới đủ tác dụng.

2-    Những kết luận có thể tin cậy về khoa học và kinh tế kỹ thuật
·       Đầu tư xây dựng khu công nghiệp sắt thép lớn ở bờ biển không phải là thảm họa, không có gì phải chê trách. Xin nhắc lại, ở đây không nói đến vấn đề an ninh, vấn đề âm mưu Trung quốc… vấn đề tham ô, hối lộ, móc ngoặc của quan chức, vấn đề di dân, đền bù , giá cả và thời hạn thuê đất.
·       Việc ngăn chặn , giảm thiểu ô nhiễm môi trường là khả thi về mặt khoa học , kinh tế, kỹ thuật. Không phải là khó khăn gì ghê gớm không vượt qua nổi. Trừ khó khăn do con người tự tạo ra.
·       Vẫn có thể chọn cả thép và cá chứ không phải chỉ được chọn một thứ.
·       Thảm họa cá chết vừa qua là một sự cố cấp tính
3-    Những câu hỏi cần phải trả lời.
a)     Vì sao những vấn đề về bảo vệ môi trường, bảo vệ biển với một khu liên hợp như Formosa không có gì mới mẻ, không quá khó khăn…mà các cơ quan quản lý Việt Nam vẫn không làm được hay là không chịu làm ?
b)    Thảm họa này muốn xẩy ra được phải hội tụ hai điều kiên: Dừng hoạt động hệ xử lý nước thải và phải đổ vào đó những chất ngăn chặn Phenol phân hủy. Tại sao mấy ngày đó lại có sự trùng hợp ngẫu nhiên như vậy?
c)     Tại sao thảm họa lại xẩy ra vào cuối tháng tư 2016?


4-    Thử tìm câu trả lời
Câu hỏi a) đã có quá nhiều phân tích chí lý rồi, xin không nhắc lại nữa.
Hãy thảo luận về câu hỏi b) với mục đích trả lời cho câu hỏi kiểu hình sự: thảm họa này là ngẫu nhiên hay là cố ý?. Mất điện vài ngày là lý do được cho là làm dừng hệ thống xử lý. Lý do này nghe được, nhưng với một khu công nghiệp có nhà máy điện riêng thì khó chấp nhận. Tại sao đúng lúc mất điện lại có một lượng lớn Hydroxyt sắt được đổ vào , gây nên hậu quả Phenol không phân hủy được? Khó tin được đây là sự sắp đặt của tạo hóa chứ không phải là do bàn tay con người!
Để trả lời cho câu hỏi c), tại sao thảm họa lại xẩy ra vào cuối tháng 4/2016, chúng ta hãy nhớ lại sự kiện biểu tình đập phá của công nhân VN tại sự kiện Trung quốc kéo dàn khoan nổi HD981vào lãnh hải Việt Nam 1/5/2014. Rõ ràng người dân VN, công nhân VN không mong muốn và tự mình gây bạo loạn đập phá nhà máy. Chỉ có một lực lượng ngầm cực mạnh mới có thể xoay chuyển được sang tình thế như vậy? Ai được lợi từ sự kiện này, chắc chắn là chủ nhân của giàn khoan HD 981 rồi. Đến đây thì ai cũng rõ họ chính là chủ nhân của lực lượng ngầm được bảo kê để gây nên sự cố này.
Tháng tư 2016 ở Việt nam có nhiều sự kiện, nhưng quan trọng nhất vẫn là sắp xếp nhân sự lãnh đạo của Đảng CSVN, thứ nữa là chuyến thăm của tổng thống Obama. Ai muốn gây sức ép lên VN tất sẽ nhân dịp này tạo một thảm họa để cảnh cáo và trục lợi. Và họ sẽ không ra mặt mà sử dụng lực lượng ngầm. Formosa đã úp mở rằng thảm họa này là do lỗi của một nhà thầu phụ. Bây giờ thì đã rõ nhà thầu phụ đó là MCC[5], một công ty quốc doanh của Trung Hoa Đại lục. Nhìn kỹ lại, thì thảm họa nay nếu không phải là ý chúa thì tất phải do bàn tay của MCC dàn dựng. MCC và 4,5 nhà thầu phụ Trung Quốc tại Formosa chính là một lực lượng ngầm khoa học công nghệ của Trung Hoa, nguy hiểm hơn rất, rất nhiều những đội quân ngầm cài cắm nhan nhản khắp các cơ quan, lãnh thổ của Việt Nam.
Xét cho cùng thì thảm họa này nằm ngoài suy nghĩ của Nhà nước và quan chức  VN , dù Nhà nước đó có tham nhũng, bất lực đến mấy đi nữa. Nó cũng nằm ngoài tính toán của chủ nhân và lãnh đạo tập đoàn Formosa, dù họ có hám lợi và táng tận lương tâm đến mấy đi nữa. Chỉ có lãnh đạo Trung Quốc hiện nay là hưởng lợi từ thảm họa này.  
Cả dân Việt Nam, cả nhà nước của ĐCS Việt Nam, cả Formosa, cả dân Trung Hoa nghèo khổ  đều đang nằm trong cỗ máy nghiền của tập đoàn lãnh đạo ĐCS Trung Quốc hiện thời. Đấy là sự thật và cũng là lý do mà tác giả đã viết bài này. Tất nhiên , có phần nào đó mang màu sắc của lý thuyết âm mưu, tin hay không tùy người đọc.
Người viết bài này chỉ là một nhà chuyên môn con dân nước Việt, không màng đến chính trị, quyền lực nên cũng chắng cần chê bai hay ủng hộ quan chức VN làm gì . Bản thân đã từng được người dân Trung Quốc nghèo khổ cưu mang, nuôi dưỡng mình từ tuổi ấu thơ cho nên đã và luôn luôn nhớ ơn và yêu mến người dân Trung Hoa. Vì vậy cũng hiểu về văn hóa Trung Hoa , về ĐCS Trung Hoa không kém gì hiểu biết về Việt Nam. Thật là khó khăn khi phải viết về sự kiện này như một người ngoài cuộc. Tuy nhiên, người viết đã cố hết sức có thể, mong nhận được những ý kiến phê phán nghiêm cẩn nhằm giúp những người có lương tri có cơ sở khoa học & kinh tế kỹ thuật..để dễ dàng phản biện.
Trần Gia Ninh 7/2016





[1]Final Document on Revised Classification of Industrial Sectors Under Red, Orange, Green and White Categories (February 29, 2016) Table G-2 : Final List of Red Category of Industrial Sectors, p.18 http://envfor.nic.in/sites/default/files/Latest_118_Final_Directions.pdf
[5] MCC là Metallurgical Corporation of China Ltd. Tập đoàn Công ty Luyện kim Trung Hoa. www.mcc.com.cn/mccen/index/index.html
http:// boxitvn.blogspot.com/2016/07/ke-ao-mo-chon-bien-ca-va-nguoi-viet-ten.html

Thứ Ba, ngày 03 tháng 5 năm 2016

Đỉnh Fansipan

LÊN NÓC NHÀ ĐÔNG DƯƠNG NHÌN XUỐNG

Chuyến lên Fansipan , nóc nhà Đông Dương 26/4/2016 rất thú vị. Đi cáp treo lên đến 2850 m và phải leo núi thêm gần 300 m nữa (hơn 600 bậc, bằng cao ốc 100 tầng) mới lên đến đỉnh. Đoạn leo núi này là thử thách lớn nhất, ai không leo lên được thì ở lại không gian ga cáp treo có siêu thị rất hoành tráng, có khu vui chơi rộng đep mênh mông , có khu vực tâm linh với đền đài uy nghi hùng ví bằng đá và gỗ quý, không hề buồn chán tí nào.




Là người đã từng đi nhiều cáp treo hùng vĩ như khu trượt tuyết ASPEN ở Colorado, Núi Alpe ở Áo....nhưng phải công nhận cáp treo Fansipan là kỳ vĩ nhất. Cáp treo Bà Nà, Yên Tử..chỉ là muỗi so với Fansipan.
Ngồi trong cabin cáp treo
Cáp treo này không phải băc từ chân núi lên mà là bắc ngang qua thung lũng Mường Hoa từ sườn dãy núi bên này sang đỉnh núi bên kia, dài hơn 6 km. Các kỹ sư Đức và Áo hiện vẫn đang túc trực làm việc với người Việt Nam tại đây khi đoàn này đi cáp treo. Hai lần đi lên và đi xuống đều mất điện giữa chừng, nhưng chỉ một phút là có điện ngay. Nguyên do là họ luôn có 3 nguồn điện dự phòng, tự động khởi động ngay , nên rất an toàn. Quả thật là không thể tưởng tượng nổi hàng vạn tấn thiết bị, vật liệu làm sao mà họ mang lên được đỉnh núi như vậy. Ngồi trong cabin vẫn thấy các đường cáp treo phụ vận chuyển vật liệu vẫn liên tục chạy bên cạnh. Họ vẫn đang tiếp tục xây dựng.
Từ cáp treo nhìn xuống thung lũng Mường Hoa
Năm sau, ai cũng lên được đến đỉnh Fanxipan mà không phải trèo 600 bậc nữa, vì họ đang xây dựng một đường tàu hỏa mini leo núi. Siêu thị ở ga cáp treo hai đầu đều rộng lớn và hoành tráng hơn cả Tràng Tiên Plaza toàn bằng đá nguyên khối. Khu tâm linh rộng như một quảng trường nhà hát lớn và 600 bậc lên núi đều bằng đá tự nhiên trắng xanh, thật là hoành tráng , thật sự đáng khâm phục về tài năng con người, đặc biệt là tầm cao mỹ thuật và sự nhìn xa của nhóm kiến trúc sư Đức-Áo đã xây dựng công trình 4 ngàn tỷ này.

Điều đặc biệt là khí hậu. Bước ra khỏi ga cáp treo là gió lạnh thấu xương, thổi mạnh đến mức ngiêng ngả người.
Ngoài sân ga cáp treo, gió lạnh thấu xương
Mọi người đều phải mặc thật ấm, đội mũ ,choàng khăn kín mặt mới chịu được. Siêu thị đã có bán sẵn áo ấm, khăn mũ, khẩu trang..cho những ai quên mang theo. Thế nhưng càng leo lên cao thì gió bớt dần, ấm áp hẳn lên. Khi đến đỉnh thì gió lặng, mát như mùa thu HàNội, phải bỏ hết khăn áo ra mà chạy nhảy hò hét, vui đáo để...

Trên đỉnh Fansipan ngắm toàn cảnh núi rừng bên dưới
Từ đỉnh núi đi xuống ga cáp treo
Các bạn nào muốn lên đỉnh Fasipan mà ngại leo, xin chờ một năm nữa có tàu hỏa leo núi rồi hãy đi cho đỡ ngại nhé! Rất đáng lên đó một lần, nói thật đấy, tôi không nhận hoa hồng của Cty cap treo để quảng cáo đâu!