Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

CÀ PHÊ THỨ BẢY
THƯ MỜI
CÀ PHÊ VĂN HỌC

Anh chị và các bạn thân mến!
Vào 14h30 chiều thứ bảy ngày 20/05/2017
tại SALON VĂN HÓA quán CÀ PHÊ THỨ BẢY,
Số 3A Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Buổi CÀ PHÊ VĂN HỌC với chủ đề:

VĂN CHƯƠNG VỚI LỊCH SỬ VÀ KHOA HỌC
(về Tiểu thuyết KIM THIẾP VŨ MÔN của Thâm Giang Trần Gia Ninh)

Chủ trì: GS CHU HẢO
Với sự góp chuyện của tác giả Thâm Giang TRẦN GIA NINH

Rất mong anh chị và các bạn đến tham dự.
Hân hạnh được đón tiếp

GĐ CPTB
Dương Thụ
_____________________________________________________________________ 

Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017

Văn chương là hồn, lịch sử là cốt







Văn chương là hồn, lịch sử là cốt
(Cảm nhận khi đọc tiểu thuyết HUYỀN THOẠI KIM THIẾP VŨ MÔN)
  NGỤY HỮU TÂM
  • Chủ nhật, 07 Tháng 5 2017 10:23
                    

Tác giả Thâm giang Trần Gia Ninh - Trần Xuân Hoài

Khi cầm quyển sách trên tay và lật giở mấy trang , cảm nhận đầu tiên, như nhà văn Phạm Quang Đẩu đã viết, là “lạ và mới ở một quyển tiểu thuyết Lịch sử, một quyển sách sinh động và hấp dẫn“[1]. Nhà báo và phê bình văn học Hồng Sơn của báo QĐND thì nhận xét là quyển sách “đã dựng lên những thân phận con người những câu chuyện lịch sử lãng mạn, bi tráng, đọc rất hấp dẫn”[2]. Tôi hoàn toàn đồng ý về nhận xét của các anh, đó là Lạ, Mới, Sinh động, Hấp dẫn. Tuy nhiên tôi muốn bổ sung một nhận xét khác nữa, mà các anh chưa đề cập tới.
Trang mạng “Những quyển sách yêu thích -  www.lovelybooks.de”   của nước Đức gần đây có tổ chức  cho độc giả bình chọn các tác giả viết tiểu thuyết lịch sử  hay nhất (Autoren, die die besten historischen Romane schreiben). Tiêu chí hay (tiếng Đức:gut) để bình chọn là „ Những tiểu thuyết lịch sử hay là khi nhà văn dẫn chúng ta lạc vào thời quá vãng và làm cho chúng ta cảm nhận rằng, đúng là lịch sử được tái hiện thực sự chính xác như thế- Historische Romane sind dann gut, wenn die Autoren es schaffen uns in vergangene Jahrhunderte zu entführen und wir dabei das Gefühl bekommen, genau so muss das damals gewesen sein. “[3] . Kết quả bình chọn, thì Alexandre Dumas dù là tác giả lừng danh của những „Ba chàng Ngự lâm pháo thủ“, „Hoàng Hậu Margo“… chỉ được xếp thứ 13. Không có gì lạ, Dumas đã từng tuyên bố:  "Lịch sử là cái đinh, ở đó tôi treo móc những bức tranh của tôi". Aragon với “Tuần lễ thánh” và “Vũ Như Tô” hay “Đêm Hội Long Trì” của Nguyễn Huy Tưởng, “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác… cũng theo cách hư cấu như vậy. Xếp hạng hàng đầu thực sự hay theo tiêu chuẩn như trên là dành cho những tiểu thuyết lịch sử thực sự, trong đó tác giả tôn trọng, coi lịch sử không phải chỉ là cái đinh, mà là một cơ thể; văn chương chỉ được phép khoác cho nó bộ trang sức hư cấu lung linh đủ để thổi hồn cho cơ thể lịch sử phục sinh như nó đã từng sống mà thôi. Cũng giống như độc giả ngày nay, Maxim Gorky ngày trước đã đánh giá trong văn học Nga, “ Pie Đại đế” của Alexei Tolstoi mới thực sự là tiểu thuyết lịch sử. Nếu độc giả Á Đông tham gia đánh giá, chắc là bộ “Tam quốc Diễn Nghĩa” bảy thật ba giả của La Quán Trung cũng được xếp hạng cao theo tiêu chí Tiểu thuyết Lịch sử thật sự hay này. Dễ hiểu là những tiểu thuyết lịch sử thực sự, khi hư cấu bị tác giả tự hạn chế, là rất khó viết và thành công lại càng hiếm hoi, đặc biệt là trên văn đàn nước Việt xưa nay. Tôi cho rằng, ở một chừng mực nào đó, KIM THIẾP VŨ MÔN đã cố gắng để tiếp cận tiêu chuẩn này.
Nhà văn Phạm Quang Đẩu kể rằng, khi vừa đọc hết quyển sách, nhà nghiên cứu văn hóa, dịch giả Hán ngữ nổi tiếng Trần Đình Hiến đã phải thốt lên “Nguồn tư liệu từ sử sách và điền dã  cực tốt!”.  Quả thật mỗi nhân vật, mỗi câu chuyện của tiểu thuyết đều được xây dưng sống động trong khung cảnh của những sự biến lịch sử thật sự. Đây là một điểm son làm nên giá trị về nội dung của Huyền thoại KTVM. Với một bút pháp văn chương, như nhà báo Hồng Sơn nhận xét, đậm màu của một thời quá vãng, ngôn từ và cách diễn đạt mang dáng dấp xưa mà không cổ, tiết tấu nhanh và tiết giản, khiến cho người đọc bị cuốn hút như được xem một cuốn phim sống động với nhiều scene lãng mạn kỳ thú, kể về những nhân vật và diễn biến lịch sử bi hùng trong cuộc kháng chiến chống xâm lược đầu thế kỷ XV. Sách được viết theo thể chương hồi gồm 14 chương 37 hồi. Thể loại tiểu thuyết này rất thích hợp cho các tiểu thuyết võ hiệp biên niên sử, nhưng rất khó viết cho các loại tiểu thuyết về nhân thế, tình yêu, thân phận con người. Có thể nói tác giả đã khá thành công khi sử dụng thể loại chương hồi khô khan mà vẫn dựng lên được những thân phận, những câu chuyện lịch sử lãng mạn, bi tráng. Nhờ thể loại chương hồi, tác giả không hề phải lộ diện, mà để cho lịch sử và nhân vật tự kể chuyện mình. Người đọc không khỏi ngậm ngùi  cho một tráng sĩ  không gặp chủ cũng không gặp thời như Đặng Dung, đã phải vạch đá ghi những vần Cảm Hoài hào sảng ai oán. Những trường đoạn tả về thác Vũ Môn lồng lộng trong hình ảnh của đôi trẻ Hà Ất-Mai ly “lồ lộ hai tấm thân trần non tơ ríu rít bên nhau mơn mởn căng tràn nhựa, thanh khiết giữa trời mây non nước…“ đã dẫn dắt độc giả vào một mối tình hoang sơ, lãng mạn vô chừng. Có được mối tình như duyên trời định với quận chúa Huy Chân mà dũng tướng Nguyễn Tuấn Thiện đành vì đại nghĩa dằn mình chịu dang dở nhìn nàng  phải lên bành voi về cung thành thân với Lê Lợi khiến ai cũng tiếc nuối.…Đó là những nốt lặng văn chương, những giây phút đắt giá trong cơn lốc vó ngựa dồn dập của sự biến lịch sử.  Nhân vật lịch sử có số phận gây nhiều tranh cãi như Phan Liêu, tuổi trẻ tài cao, lạc lối giữa thù hận và trách nhiêm, cùng với mối tình đam mê oan trái với Xuân Liên cũng được khắc họa rất nổi bật. Giá như tác giả đẩy bi kịch số phận những nhân vật Tuấn Thiện, Phan Liêu,…lên cao trào hơn nữa thì sẽ tuyệt vời hơn ! Và nếu vào tay những cây bút thời thượng, chắc sẽ viết sexy hơn nữa cho hợp trào lưu văn học đương đại (nhưng tôi thì không muốn Trần Gia Ninh viết như vậy)!
Khác với khi đọc các tiểu thuyết khác, đọc KTVM độc giả còn được tiếp nhận nhiều điều bổ ích và lý thú từ kho tàng văn chương, lịch sử, minh triết cổ kim đông tây mà tác giả đã khéo léo lồng ghép vào tác phẩm, cùng nhiều chú giải tỷ mỉ, đến độ mà có cảm tưởng như đang đọc một khảo luận khoa học bằng văn chương.
Tôi rất tâm đắc với nhận xét của nhà bình luận Nguyên Hải trên tờ Tia Sáng, khi thốt lên “tổ tiên ta giỏi quá”. Còn nhà văn Nguyễn Thế Hùng trên báo Văn Nghệ Công An đã viết rất chí lý rẳng  đọc Kim Thiếp Vũ Môn “ để  tin và yêu thêm đất nước mình”
Ngay cả chữ KIM THIẾP ở tên sách cũng chỉ được giải mã khi ai đó đã đọc hết quyển sách. Cũng không có gì lạ, vì tác giả vốn dĩ là một nhà khoa học và ông coi đây là một tiểu thuyết khảo luận, học thuật. Tác giả còn lo rằng, vì thế mà với nhiều độc giả, quyển sách này có thể sẽ rất khó đọc. Tôi, người viết bài này, vốn dĩ cũng là một người cùng nghề làm khoa học tự nhiên như tác giả, cho nên rất hiểu tâm trạng và cảm xúc của một nhà khoa học toán lý cầm bút, luôn tự biết mình là kẻ ngoại đạo văn chương. Vì vậy, dù trong lời Cẩn Bạch, tác giả thổ lộ rằng “chỉ mong góp được vài mẩu vụn vặt cho ai đó khi gẫu chuyện với  tri kỷ mà thôi “ . Tôi thì không nghĩ thế mà cho rằng mọi độc giả đều có thể và nên đọc quyển tiểu thuyết lịch sử có phần độc đáo này và chắc chắn sẽ không thất vọng vì sự hấp dẫn, kỳ thú của quyển sách mà tác giả Thâm Giang Trần Gia Ninh đã mượn văn chương để thổi hồn cho lịch sử sống động và còn gửi gắm nhiều hơn thế, tùy cảm nhận của từng người đọc... Có bạn đọc kể rằng, sau khi đọc xong quyển sách quá hấp dẫn này, liền thực hiện chuyến hành hương về Hoan Châu, đến tận đôi bờ sông Lam, sông La, ngược lên thung lũng Ngàn Sâu, Ngàn Phố để chiêm bái các địa danh, chứng tích và kỷ niệm của lịch sử đã trải sáu trăm năm có lẻ mà quyển sách đã kể lại. Đó có lẽ là thành công ngoài mong đợi của bất kỳ tác giả nào. Và cũng nên nói thêm, trong tình trạng  văn đàn  hiện nay, việc nhà xuất bản Văn Học cho ra đời  quyển tiểu thuyết “Kim Thiếp Vũ Môn” quả là có con mắt xanh, một điểm son đáng ghi nhận. Chỉ tiếc là số lượng in quá khiêm tốn, khiến độc giả nay không thể tìm đâu ra sách, nhiều nhóm phải photocopy để chuyền tay nhau đọc.




[1]  Theo bài bình luận của nhà văn Phạm quang Đẩu về quyển sách “Huyền thoại KTVM” đăng trong Bán Nguyệt San "TINH HOA VIỆT" trang 15, số 6, ra ngày 25/6/2015).
[2]  Hồng Sơn,Đọc HT KTVM: Một khúc bi tráng,Sự Kiện& Nhân Chứng ,báo QĐND, trang 39
[3] http://www.lovelybooks.de/autoren/historische-romane/Autoren-die-die-besten-historischen-Romane-schreiben-464890264/


Tường thuật cuộc tọa đàm về Tiểu thuyết Lịch sử "KIM THIẾP VŨ MÔN" tại Đại Học KHXH&NV-ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI



07/05/2017
Ngụy Hữu Tâm
Cuộc tọa đàm, diễn ra sáng 5.5.2017 tại Khoa Văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, đã thành công hết sức tốt đẹp.
Từ trái qua: GS.TS Trần Ngọc Vương, Trần Gia Ninh, GSTS Trần Nho Thìn

Cuộc tọa đàm „Hư cấu và sự thật trong tiểu thuyết lịch sử“ do Khoa Văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, và Nhà xuất bản Văn học đồng tổ chức. Đây có thể nói là một trường hợp hy hữu trên văn đàn Việt nam hiện nay khi một quyển sách ra đời thầm lặng cách đây hai năm, của tác giả Thâm Giang Trần Gia Ninh, một cái tên lạ hoắc trong giới văn chương, lại gây được sự chú ý của người đọc, của các văn sĩ và của giới học thuật. Thật ra thì tác giả quyển sách không phải là xa lạ, ông vốn là một nhà khoa học khá nổi tiếng, nguyên là Viện trưởng Viện Vật lý ứng dụng thuộc Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ VN.
Ông tên thật là Trần Xuân Hoài, lấy bằng Tiến sĩ và Tiến sĩ Khoa học (Dr.habil) tại trường Đại Học Humboldt, Berlin, từng là Giáo sư thỉnh giảng (visiting Professor) của nhiều trường đại học châu Âu.
Rất nhiều những nhân vật tên tuổi, nổi trội trong văn chương, học thuật đã đến dự và phát biểu, tham luận, tranh luận rất sôi nổi.
Mở đầu, TS. Nguyễn Anh Vũ, Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, vui mừng thông báo, sau hai năm, cuốn sách „Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn” đã được tái bản.
TS. Nguyễn Anh Vũ, Tổng Giám đốc NXB Văn Học
GS. Trần Ngọc Vương, chủ toạ cuộc tọa đàm, giới thiệu sơ lược về tác giả cuốn tiểu thuyết. Ông cho biết, tác giả xuất thân gia đình Nho học lại có thời gian dài tuổi thơ học ở Lư Sơn và Quế Lâm, Trung Quốc nên có vốn Hán văn, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ phương Tây cho nên có nhiều điều kiện để tích lũy kiến thức, tư liệu văn hóa. Là nhà khoa học tự nhiên có nhiều công trình khoa học giá trị, đồng thời là nhà báo với nhiều bài báo nhân học văn hóa, như những công bố gần đây của ông về mối liên hệ Bách Việt - Hán đã tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi. Tác giả là nhà khoa học phản biện thẳng thắn, quen thuộc của giới trí thức nước nhà. Như nhiều khoa học lớn tuổi khác, bên cạnh chuyên môn lại hết sức đam mê văn học và dù viết tiểu thuyết này ở tư cách là nhà văn nghiệp dư, vẫn hết sức thành công. GS Vương đánh giá đây không phải chỉ là một tác phẩm hư cấu văn học mà còn là một giả thuyết khoa học được trình bày dưới hình thức tiểu thuyết lịch sử.
GS. Trần Nho Thìn (Bộ môn Văn học Trung đại): Cuốn tiểu thuyết không dễ đọc, nhưng hấp dẫn và gợi cho ta suy nghĩ mới về lịch sử, chẳng hạn vì sao Lê Lợi thắng, GS Thìn nói: "Lịch sử là tài sản chung của mọi người, nói lịch sử là nói sự thật. Nhưng tiểu thuyết lại đòi hỏi phải hư cấu. Vậy hư cấu thế nào thì vừa? Có lẽ nên hư cấu sao cho độc giả đã bắt đầu đọc là muốn đọc tới cùng, khi ấy họ không còn câu nệ lắm với sự thật lịch sử".
Nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến (đã dịch rất nhiều sách của Mạc Ngôn như „Báu vật của đời“, „Đàn Hương Hình“...) với trải nghiệm 70 năm sống và nghiên cứu ở Trung Quốc, đánh giá tác giả có kiến thức địa lý tự nhiên và nhân văn vùng miền rất tốt, đã nghiên cứu kỹ cổ sử Trung Quốc. Còn về hư cấu: Tam Quốc là 70%, thậm chí 90% nên hư cấu và lịch sử là đa dạng, được phép. Tuy nhiên hư cấu như Chính phủ Trung Quốc đang làm từ nhiều năm nay như đề nghị UNESCO công nhận Vua Hùng là ở Vân Nam, Trống đồng không phải ở Đông Sơn mà là ở Trung Quốc... thì không thể chấp nhận được.
Nhà Hán học, Dịch giả Trần Đình Hiến
GS. Trần Đình Sử (ĐHSP HN) cho biết: Với tư cách là một người đọc ông đã rất hứng thú khi đọc vì hết sức hấp dẫn, có cái nhìn mới về lịch sử Tàu xâm lược, về Lê Lợi khi chú ý đến yếu tố vũ khí. Tác giả đã dẫn giải nhiều tư liệu ghi trong Minh thực lục, Minh Sử chí. Đặc tả về thác Vũ Môn, gợi lại cội nguồn của xứ sở nhà chế súng Cao Thắng... Rất nhiều tiểu thuyết hiện nay, độc giả thường chỉ đọc mấy trang đầu rồi bỏ. Cuốn tiểu thuyết này thì lại khác, dù không dễ đọc, nhưng không thể bỏ.
GSTS Trần Đình Sử (ĐHSP)
Nhà giáo kiêm Sử gia Vũ Thế Khôi nói rằng ông rất thích thú và tin cậy khi đọc cuốn sách này. Tư liệu điền dã và lịch sử rất công phu. Theo ông Dã sử cũng là đối chứng cho lịch sử. Quyển sách này là một xu hướng mới cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam.
Nhà giáo kiêm Sử gia Vũ Thế Khôi 
Nhà phê bình nghệ thuật Nguyễn Văn Thành (nguyên phó Viện trưởng viện Sân khấu và Điện ảnh) kể rằng rất khó tìm mua quyển sách này. Ban đầu, ông không biết tác giả là ai. Nhiều người, nhiều nhóm chuyền tay nhau đọc những bản copy.
Nhà phê bình nghệ thuật Nguyễn Văn Thành (nguyên phó Viện trưởng viện Sân khấu và Điện ảnh)
Bản thân ông cùng nhiều người bạn sau khi đọc xong đã từng nhiều lần rủ nhau lần về vùng Hoan Châu chiêm bái những địa danh, chứng tích đã được mô tả trong tiểu thuyết. Nhiều người yêu thích vì nó nói lên lòng yêu nước, lòng yêu quê hương. Có bạn đọc bình dân đã mua cả chục cuốn để cho bè bạn.
Đại tá, nhà văn Phạm Quang Đẩu
Bình luận của nhà văn Phạm Quang Đẩu vắn tắt nhưng hàm xúc: Ông đánh giá hết sức cao cuốn sách. Đó là một quyển tiểu thuyết lịch sử LẠ, MỚI, SINH ĐỘNG, HẤP DẪN. Quyển sách là một hiện tượng bất ngờ, thú vị cho nền văn học nước nhà hôm nay.
TS. Nguyễn Thế Hùng, một nhà kỹ thuật, kiêm nhà văn, nhà báo phát biểu: Ông ấn tượng về con số 6: những sự kiện hủy diệt văn hóa lần thứ nhất 600 năm  trước (1407-2017) thời Nhà Minh và sự hủy lần thứ hai 60 năm qua (1957-2017) thời CCRĐ-Nhân văn Giai Phẩm. Bí quyết trường tồn của văn hóa Việt là gì?
Nhà NC Văn hóa, Sử gia Bùi Thiết (đang phát biểu)

Nhà nghiên cứu Văn hóa Sử Bùi Thiết: Tiểu thuyết này đúng là một công trình khoa học lịch sử. Tác giả hiểu rõ sử-địa địa phương. Những tư liệu về sắt (sinh thiết-thép), những quê hương của Mỏ sắt Thạch Khê, của vùng Vân Tràng thợ rèn, trung tâm luyện sắt xưa của Việt thường. Nên đọc cuốn sách và quảng bá cho con cháu đọc.
TS Trịnh Văn Định, p Trưởng phòng NCKH, Đại học KHXHNV
TS. Trịnh Văn Định kể những chi tiết khi đi tìm quyển sách theo dư luận lan truyền, tìm đọc bản photo của cuốn sách, lần mò các nguồn tin để tìm ra được tác giả và từ đó đã mới có dịp gặp gỡ trao đổi trực tiếp.
GSTS Nguyễn Bá Thành, Bộ môn Văn học Hiện Đại
GS Nguyễn Bá Thành (Bộ môn Văn học hiện đại) kể rằng ông đã đọc hết quyển sách (bản photocopy) và rất thú vị khi được đọc những mô tả văn chương chính xác, tuyệt vời về thác Vũ Môn, về núi Giăng Màn hùng vĩ, về sông Ngàn Sâu hung dữ và thơ mộng... Ông đã bỏ dở buổi chấm luận án tiến sĩ để về cuộc tọa đàm, chỉ vì lý do đơn giản Vũ môn, Giăng Màn, Ngàn Sâu chính là quê hương của ông. Ông muốn biết ai là tác giả của quyển sách. Hóa ra hai người là cùng quê, sống rất gần nhau mà bây giờ mới biết nhau. Sáu bảy mươi năm ly tán, âu cũng là số phận chung!
P GS Phạm Văn Thach., Chủ nhiệm Khoa Văn Học, tổng kết tọa đàm
PGS Phạm Xuân Thạch kết thúc buổi tọa đàm với kết luận tiểu thuyết viết về cổ sử Trung Quốc và Việt Nam, chứng minh được rằng dù bị ngàn năm độ hộ, văn hóa Việt Nam vẫn tồn tại. Cuốn sách còn đi được vào những góc khuất lịch sử, nêu lên được những vấn đề lớn, nói lên được giá trị của tiểu thuyết.
Phạm văn Thiều, TBT Vật lý và Tuổi trẻ


TS. Ngụy Hữu Tâm, nhà Vật lý kiêm nhà dịch thuật, viết văn

Trung Tá Minh Ngọc, P GĐ Bảo tàng Quân sự

Nhà dân tộc học Tạ Đức

GSTS Trần Nho Thìn

GSTS Trần Ngọc Vương

Đại Tá Mạnh Kính

Trao đổi ngoài hội trường

Trên sân trường Đại Học KHXH&NV, Đại Học QG Hà Nội

Trong buổi tọa đàm, tôi, Ngụy Hữu Tâm cũng đã có một bài tham luận ngắn, với nhan đề “ VĂN CHƯƠNG LÀ HỒN, LỊCH SỬ LÀ CỐT”, xin chép ra đây hầu quý vị.
(Bài tham luận này đăng trên TẠP CHÍ VĂN HÓA NGHÊ AN, xin mời đọc ở bài tiếp-Tran Gia ghi chú)

Nguồn: (https://boxitvn.blogspot.com/2017/05/ve-cuoc-toa-am-hu-cau-va-su-that-trong.html)
Ảnh của nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Định

"Hư cấu và Sự thật trong TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ"- Tọa đàm về tiểu thuyết "Huyền thoại KIM THIẾP VŨ MÔN" của Thâm Giang TRẦN GIA NINH





KIM THIẾP VŨ MÔN , Nhà Xuất Bản Văn Học
In lần thứ 1: 2015
In lần thứ 2: 2017
__________________________________________________________
Lời Nhà xuất bản
 (cho lần in  thứ 2)
Trước khi in bất kỳ tác phẩm nào, đối với Nhà xuất bản Văn học, câu hỏi quen thuộc nhất là: Quyển sách này dành cho ai và ai có thể hứng thú để đọc quyển sách này? Với Kim Thiếp Vũ Môn dù rằng tác giả ngay cuối lời cẩn bạch đã nói rõ quyển sách này chỉ là để góp chuyện gẫu cho kẻ sĩ lúc nhàn du. Nhưng chúng tôi nghĩ không nhất thiết chỉ kẻ sĩ mới có thể là độc giả của quyển sách này. Sẽ dễ dàng trả lời hơn cho nhận xét này không phải từ ngay những trang đầu mà là khi đã đọc hết đến những trang cuối cùng. Độc giả đang cầm trên tay một cuốn tiểu thuyết. Vâng, đúng thế, quyển sách này thuộc thể loại tiểu thuyết, nhưng là một tiểu thuyết lịch sử đặc biệt theo dạng luận đề. Quyển sách này nhắc cho hậu thế về những thân phận con người, về số phận bi hùng của những hào kiệt, những anh tài luyện thép, đúc súng của đất Việt trong thăng trầm của lịch sử.
Vì vậy, sẽ không dễ đọc những trang viết ở Kim Thiếp Vũ Môn nếu đọc nó như đọc một quyển tiểu thuyết bình thường. Vì chưng đây là một quyển sách mà cấu trúc, văn phong và bút pháp không theo một tiền lệ nào cả, nhưng mỗi câu chữ, mỗi chương, mỗi hồi không chỉ là lịch sử, là khoa học, là tiểu thuyết, là kiếm hiệp, là trinh thám mà còn nhiều hơn thế, là tình yêu, là thân phận, là văn chương, thế sự, cuộc đời... Và hy vọng nó cũng sẽ gửi đến cho độc giả không chỉ có văn chương mà còn những chiêm nghiệm khác ngoài văn chương. Nhà xuất bản Văn học trân trọng mời quý độc giả khám phá, tìm hiểu những điểm rắc rối, khó khăn và thú vị trong mê trận của thời cuộc, sử liệu cùng truyền thuyết. Chúng tôi cũng mong chờ sự kiên nhẫn của độc giả khi phải tìm hiểu những rắc rối, ẩn ức, kỳ bí đằng sau mỗi câu, mỗi chữ, mỗi chương, mỗi hồi ở quyển sách này. Thời gian của những chuyện ghi chép ở đây lùi lại từ mấy trăm năm trước, kéo cho đến tận ngày nay. Chuyện không chỉ ở Giao Chỉ mà còn kéo từ Yên Kinh của Trung Hoa, sang tận Cao Ly, Nhật Bản... Có lúc rõ ràng như sử sách ghi chép, có khi ẩn hiện như rồng trong mây, có nhiều hồi nhiều lớp... Tiếc thay, cũng không mấy dễ đọc, khi mà cuộc đời hối hả, còn nhiều thứ dễ đọc, dễ cảm hơn!
Việc cảm nhận, đánh giá và chia sẻ là tùy thuộc vào độc giả sau khi khám phá đến những trang cuối cùng của cuốn sách!
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
 Nhà xuất bản Văn học

Mấy lời cẩn bạch
(cho lần in  thứ 2)
Khi nói đến trí tuệ, văn minh phương Đông, thiên hạ hay nhắc đến bốn phát minh vĩ đại nhất - gồm có la bàn, làm giấy, nghề in và thuốc súng. Nhờ có thuốc súng, nhiều dân tộc đã chế ra được các hỏa khí như hỏa tiễn, hỏa pháo rồi đến súng thần công. Vào đầu thế kỷ 15, nhà Minh Trung Hoa đã có trong tay một loại súng gần như súng hỏa mai mà họ gọi là Thần Cơ Thương - tức súng thần, mạnh hơn cung kiếm, đánh cho quân Tacta thua tơi tả. Đây là một phát minh thần kỳ, làm thay đổi lịch sử chiến tranh của nhân loại. Sách “Minh Sử” của Trung Hoa chép: “Minh Thành Tổ đánh Giao Chỉ, chiếm được phép chế Thần Cơ Thương Pháo, đặt riêng Thần Cơ Doanh luyện tập”. - Minh Thành Tổ chiếm Giao Chỉ năm 1407. "Đại Việt sử ký toàn thư" tả trận đánh năm Canh Ngọ 1390 đời Trần: “Trần Khát Chân liền ra lệnh các Hỏa súng nhất tề nhả đạn, bắn trúng thuyền Chế Bồng Nga, xuyên suốt ván thuyền, Bồng Nga chết"... Như vậy, người Giao Chỉ, tức người Việt, đã sáng tạo ra súng thần cơ ít nhất là cuối thế kỷ 14, cuối đời Trần. Nhà Minh đã giấu kỹ bí kíp Thần cơ đã chiếm đoạt được của nước Việt. Nhưng rồi nó cũng bị rò rỉ sang phương Tây qua các cuộc chiến với Tacta. Cho nên hơn năm chục năm sau, vào nửa cuối thế kỷ 15, người Ottoman, rồi người Bồ Đào Nha mới học được cách chế tạo khẩu súng hỏa mai (matchlock musket) đầu tiên. Rồi từ đó phương Tây phát triển tiếp bao nhiêu loại vũ khí cho đến ngày nay.
Tiếc thay, các vương triều cầm quyền nước Nam xưa thường vẫn có truyền thống ngưỡng mộ, sùng bái đạo thánh hiền, chỉ chăm chú vào thi thư lễ nghĩa, tầm chương trích cú, mà vùi dập, coi thường tài năng của dân Việt, cho nên những sáng tạo của người Việt cũng lụi tàn theo thời gian. Còn sử sách nước Việt cũng không chép lại. Quyển sách này cố chép lại những điều mà chính sử đã quên lãng đó. Bạn có thể thấy nó dài dòng, vô bổ hoặc cũng có thể thấy đó là những chiêm nghiệm đáng suy ngẫm... Đơn giản, quyển sách này chỉ mong góp được một vài mẩu vụn vặt cho kẻ sĩ khi nhàn du gẫu chuyện với tri kỷ mà thôi. Bạn có thể đọc quyển sách này mà không cần chú ý đến những chú thích cuối trang hoặc cuối sách (in chữ nhỏ). Chỉ khi bạn hứng thú muốn tìm hiểu thêm thì hãy đọc những phần này. Trong lần in này hồi 1 và hồi 2 đã được viết lại, bổ sung thêm hồi 34, còn lại vẫn giữ nguyên như cũ. Tác giả xin chân thành cảm ơn các góp ý của bạn đọc, của bạn bè, các học giả, nhà văn... để hoàn thiện quyển sách cho lần in này. Đặc biệt xin cảm ơn Nhà xuất bản Văn học về cặp mắt xanh và những công việc quý giá, thầm lặng mà thiếu nó quyển sách này không thể được hoàn thiện và ra đời. Khi viết quyển sách này người viết đã phải nhờ cậy vào không biết là bao nhiêu tác phẩm, tài liệu, bài viết, gia phả, thần phả.. của người đi trước cũng như của người đương thời. Số lượng quá lớn, tên tuổi quá nhiều đến mức không thể kể ra đây hết được. Do vậy, người viết chỉ dám xin đa tạ công lao của các bậc tiền bối, của các tác giả đương thời. Nếu có ai nhận ra một ý, một câu chữ, lời lẽ của mình trong quyển sách này, thì xin nhận cho một lời cảm ơn chân thành, và xin lượng thứ cho sự mạo muội của người viết quyển sách này đã không thể xin phép trước.
Thâm Giang TRẦN GIA NINH  Cẩn bút


Thâm Giang TRẦN GIA NINH tự giới thiệu:
Tôi quê gốc ở Hà Tĩnh. Cha tôi vốn là một công trình sư thời Pháp thuộc, tham gia kháng chiến và là lãnh đạo xây dựng ngành giao thông vận tải trong hai cuộc kháng chiến, mẹ bị bom Pháp giết hại lúc chúng tôi còn nhỏ. Tôi được gửi vào Trường thiếu sinh, năm 1953 sang Lư Sơn, Trung Quốc từ khi mới hơn 10 tuổi, may mắn được hưởng sự giáo dục đầy đủ lúc nhỏ, lớn lên được đào tạo và làm việc ở nhiều cơ sở nghiên cứu lớn trên thế giới. Tôi nhận học vị Tiến sĩ rồi Tiến sĩ khoa học đều ở Đại Học Humboldt, Berlin, Đức, là Giáo sư mời (Visiting Professor) của một vài trường đại học ở châu Âu. Từ trước đến nay, tôi chỉ làm việc trên giảng đường và phòng thí nghiệm, cho đến giờ vẫn đang cầm mỏ hàn, gõ bàn phím, dù rằng tôi mấy chục năm là Viện trưởng ,Chủ tịch HĐKH Viện Vật Lý Ứng Dụng và Thiết Bị Khoa Học, Viện Hàn Lâm KHCN Việt Nam...Tôi có viết khoảng hơn năm chục công trình gồm sách và báo chuyên môn, bằng sáng chế.. chủ yếu bằng tiếng Anh, Đức, Nga…
Tôi là người nghiệp dư, viết tiếng Việt những vấn đề về xã hội, cuộc sống liên quan ít nhiều đến khoa học thì dùng tên thật là Trần Xuân Hoài. Bút danh Trần Gia Ninh được dùng khi viết những vấn đề ngoài khoa học, có thể kể vài công bố gần đây như: KIM THIẾP VŨ MÔN (tiểu thuyết lịch sử, NXB Văn Học 2015), NHÌN LẠI LỊCH SỬ BÁCH VIỆT VÀ QUÁ TRÌNH HÁN HÓA BÁCH VIÊT (Tia sáng 2016), LẠM BÀN VỀ DẠY VÀ HỌC TIẾNG TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM (Tia sáng 2016), CẦN MỘT GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ KHOA HỌC MỚI (Tia sáng 2013)….


Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Gặp gỡ đầu xuân tại Hội nhà văn Hà Nội

BUỔI TRÒ CHUYÊN CỦA NHÀ VĂN TRẦN GIA NINH VỚI HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI 
ĐẦU XUÂN NĂM CON GÀ 10/2/2017

Ảnh TRẦN ĐỊNH

Buổi nói chuyện diễn ra tại  Hội Trường 19 Hàng Buồm Hà Nôi-
Bên trái: Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nôi Phạm xuân Nguyên, Bên phải: NV Trần Gia Ninh
Trao đổi bên trong Hội trường






Gặp gỡ trao đổi bên hành lang

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2016

Ghi chép dọc đường trên đảo FORMOSA


     
FORMOSA ISLAND DU KÝ
(Đài Loan Du Ký)
Người ta kể rằng năm 1542 những thủy thủ Bồ Đào Nha khi nhìn thấy hòn đảo đã kêu lên » Ilha Formosa » có nghĩa là  "beautiful island tức Hòn đảo Xinh đẹp", từ đó cho đến đầu thế kỷ 20 phương Tây gọi Đảo Đài Loan là FORMOSA 福爾摩沙
Lâu ngày không sang Trung Quốc, năm ngoái nhóm Quế Lâm xưa định đi, sau vì ngại chuyện Trung Việt nên hủy. Năm nay, nổi hứng lên, nhóm trẻ con hơn sáu chục năm trước  ở Quế Lâm lại rủ nhau đi Trung Hoa Dân Quốc, tức là Đài Loan đó, để tìm lại chút kỷ niệm xưa với người Trung Hoa, cũng là xem Trung Hoa dân chủ khác vớiTrung Hoa Cộng Sản như thế nào..Tuy đã đi hầu khắp thế giới, Đài Bắc cũng có ghé qua rồi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi đi “du lịch” đúng nghĩa vì theo tour của Cty du lịch 4 đêm 5 ngày, có người đưa đón, giới thiệu. Đa số trong đoàn 16 người ít nhiều đều hiểu tiếng Trung cả nên cũng chẳng có khó khăn gì.
Đài Loan chẳng xa xôi mấy, mỏm cực nam Đài Loan nằm cùng vĩ độ với Lạng Sơn, chạy hơn 400km lên phía bắc là hết đảo lớn, gọi là tỉnh Đài Loan, chỉ có hai tỉnh thôi, tỉnh thứ hai gồm mấy đảo Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ gọi là tỉnh Phúc Kiến, cùng tên với tỉnh Phúc Kiến đối diện bên Đại Lục Cộng Sản. Nhớ hồi những năm 1955/56 lũ trẻ chúng tôi ngày ngày hồi hộp nghe loa nhà trường đọc tin chiến dich của Bác Mao nã đại bác vào đảo Mã Tổ , một ngày bắn một ngày nghỉ, vui đáo để ! So với Việt Nam thì diện tích Đài Loan 36000km2, bằng 1/10, dân số 23,5 M bằng ¼, vậy là mật độ dân cư gấp 2,5 lần Việt Nam, đúng là đất chật người đông, thế mà cũng không ngăn cản họ giàu (GDP theo sức mua tương đương 2014) gấp 7,7 lần Việt Nam, và 4,6 lần Trung Hoa Cộng sản, xấu hổ thật! Tất nhiên tôi đi không phải chỉ để ngắm họ giàu mạnh thế nào, không vì cao ốc hay độ xa hoa mà còn muốn khám phá nhiều hơn con người và cuộc sống phía sau đó…
Đã có thể nhận ngay ra tâm hồn Trung Hoa trên con đường từ sân bay Đào Nguyên về Đài Bắc. Đường phố ngoại ô, những ngôi nhà ống cao thấp nhấp nhô, xưởng thợ bám mặt phố…có khác gì Quế Lâm , Quảng Châu hay Biên Hòa, Chợ Lớn ?
Đường từ sân bay Đào Viên về Đài Bắc, nhìn từ trên ô tô


Nhà xưởng bám đường

Nhà ống Trung Hoa
 Đài Bắc là thành phố lớn nhất và cũng cổ nhất của Đài Loan, chủ yếu do người Nhật cai trị Đài Loan từ trước 1945 xây dựng. Đường phố nhỏ hẹp, gon ghẽ sạch sẽ. Tòa thị chính từ thời Nhật còn mang dáng dấp kiến trúc Nhật, ảnh hưởng từ kiến trúc Đức , nằm ở Trung tâm thành phố, tấp nập ô tô và xe máy. Xe máy khá đông và rất trật tự, đâu phải là tội đồ mà cấm. Thê mà mà sao quan chức Hà Nội lại đang hăng hái hô hào cấm xe máy nhỉ? Không quản được thì cấm, triết lý của nhà nước VN là vậy rồi.

Tòa thị chính xây từ thời Nhật, hơi hướng kiến trúc Đức, như tòa thị chính Berlin


Xe máy chen nhau ở Trung Tâm thành phố, nhưng rất trật tự




Một Đài Bắc bình dị , ô tô xe máy chen nhau, ban công chung cư đeo “balo” với một Đài Loan hiện đại , như tòa nhà cây tre cao thứ 9 thế giới. Hóa ra “chuồng cọp” nhà chung cư không phải là phát minh của Việt Nam, và nghe đâu Hà Nội đang muốn xây tòa tháp cao nhất châu Á !
Đài Bắc hiện đại với tìa tháp 101 hình cây tre cao thứ 9 thế giới
Và Đài Bắc với những chung cư "chuồng cọp" không khác gì Kim Liên-Trung Tự ở Hà Nội
Đài Bắc hiện đại nhìn từ tầng 89 tòa tháp 101
Đến thăm Đài tưởng niệm Trung Chính (tức Tưởng Giới Thạch), tiếc thay là vì mới bão qua, mọi cơ sở nhà nước đều đóng cửa, chỉ vào vườn và tham quan bên ngoài. Lại nhớ chuyện Tưởng Giới Thạch cho con là Tưởng Kinh Quốc sang học ở Liên Xô, vào Đảng CS LX rồi làm quản đốc nhà máy ở Ural, nhưng Kinh Quốc về nước tuyên bố không thể chấp nhận Cộng Sản được, sau khi cha mất, Kinh Quốc làm tổng thống và có công lớn xây dựng Đài Loan phồn vinh. Rủ nhau đến viếng Long Sơn Phật tự , ngôi chùa linh thiêng nhất Đài Bắc. Quang cảnh không khác mấy chùa Quán sứ, nhưng có phần hoành tráng hơn.  Hồ Uy Liêm nhận xét: ”Dân Đài Loan mộ đạo thật sự, hành đạo một cách tự nguyện bài bản, khác với nam thanh nữ tú đến chùa như ở nước ta , chỉ mong cầu tài cầu lộc là chính.” 
Đài tưởng niệm Trung Chính (Tưởng Giới Thạch)


Trước Long Sơn Phật Tự

Đến Đài Bắc mà không đến chợ đêm Tây Môn Đinh thì thật là uổng. Chợ đêm là một khu phố đi bộ rộng, đường phố chằng chịt không khác gì 36 phố phường Hà Nội, có điều nhà to hơn, sạch sẽ gọn gàng hơn, không có xe máy lộn xộn vỉa hè. Hàng hóa thượng vàng hạ cám gì cũng có, được cái rõ ràng hàng Tàu lục địa rẻ tiền thì ghi rõ ràng, hàng  Đài chính hiệu giá cao hơn nhiều, nhưng cũng được chuộng hơn. Lại vào dịp sang thu, hàng mùa hè đại hạ giá, các chị ,các cô trong đoàn tha hồ mua sắm.
Chợ đêm và khu phố đi bộ Tây Môn Đinh, nơi đây tôi đã mua được một hộp keo con voi để dán đôi giày há mõm!
Đến chợ đêm Tây Môn Đinh đôi giày của tôi bị há mõm, phải đi tìm mua keo dán lại ngay. Khổ nỗi hỏi ai cũng không biết keo gián dày tiếng Trung gọi là gì, kể cả cô hướng dẫn viên tốt nghiệp ĐH ngoại ngữ tiếng Trung Hà Nội, lấy chồng Đài Loan đã 10 năm cũng không biết . Bí quá tôi vào liều một hiệu tạp hóa, chỉ vào giầy há mõm hỏi hỏi cô nàng trẻ tuổi răng tôi cần phải dán lại, cô có cái gì dán không ? Cô ta hiểu , bào không có, ông thử hỏi cửa hàng Seven/Eleven xem có không. Tôi hỏi tiếng Đài gọi là gì, cô ta bảo “lian xia ti cheo” , đành nhờ cô viết hộ ra giấy , hóa ra là  “ 連鞋的膠 Lián xié de jiāo- “. Thế là tôi mua được keo con voi, và biết thêm một từ tiếng Trung đọc là “cheo” , Việt đọc “Keo”   vốn có gốc Hán Việt là “giao” việt hóa thành “keo”. Hôm sau mới biết các chị Châu Loan (vợ anh Nhật), Dục Tú (K5) cũng có vấn đề về giày giống tôi. Hơn 60 năm rồi , tiếng Trung đã khác nhiều. Chiều hôm sau , vào nhà hàng ăn, không hiểu sao cô phục vụ lại chạy đến hỏi tôi “Dào yóu ?”. Giật mình chẳng hiểu gì nghe chữ “yóu” nghĩ rằng nhà hàng hỏi cái nước  chấm (dầu ) gì đây chắc, “dào ” là gạo, chẳng lẽ họ hỏi mình có dùng dầu gạo 稻油  không , mà dầu gạo là gì cơ chứ ? thấy lạ nên tôi trả lời “không hiểu cô hỏi gì”. Ngồi vào ăn chợt ngước nhìn trước mặt thấy cái biển to tướng, có chữ  導遊 (đạo du) cũng đọc là “Dào yóu”. Nhìn mặt chữ lại đọc cả bảng hiệu mới vỡ lẽ ra Đạo Du có nghĩa là dẫn đoàn du lịch, mà ta gọi là Tour Guide. 
Biển ghi: Dào yóu 導遊 và lái xe miễn phí 300 đài tệ"
Dào yóu 導遊-tour guide" rất tận tình của đoàn du lịch

Thú vị thật , Dầu GạoHướng dẫn viên du lịch phát âm như nhau! Văn không ôn, võ không luyện, 60 năm không dùng tiếng Trung , hậu quả là thế đấy. Có lẽ thấy tôi ngồi bên cờ hiệu của đoàn du lịch, chắc họ nghĩ tôi là Tour Guide nên mới gọi tôi. Bởi vì toàn văn bảng chữ ghi: Khu vực danh cho hướng dẫn viên và lái xe.  Miễn phí cho Hướng dẫn viên và lái xe suất ăn ước khoảng 300 Đài tệ/người (~210.000VNĐ). Người Đài Loan minh bạch thật, không kín kín hở hở như nhà hàng và người nhà xe như ở ta, thật đáng học tập. Và không cần hỏi tôi cũng ước lượng được mỗi bữa ăn nhà hàng của đoàn cũng khoảng dưới 300 tệ/ người. Cô hướng dẫn viên cho biết một suất cơm hộp văn phòng ở đây từ 80 đến 100 tệ (60-70K VNĐ) . Người Đài Loan phải có thu nhập tối thiểu 35000-40000 tê/tháng (25-30 triệu VNĐ) mới đủ trang trải cuộc sống

Ngày thứ hai ở Đài Bắc chúng tôi đi thăm Cố Cung , đúng hơn là 國立故宮博物院 Quốc lập cố cung bác vật viện nơi lưu giữ và trưng bày bảo vật quốc gia. Người ta kể rằng, năm 1949 lúc rút quân chạy qua Đài Loan, Tưởng Giới Thạch chẳng những chỉ chở hàng ngàn tấn vàng ngọc, mà còn ra lệnh đem toàn bộ cổ vật trong tất cả bảo tàng viện bí mật chuyển sang Đài Loan không để rơi vào tay TC. Đây là một điểm son cho Tưởng Giới Thạch vì nếu để lại có lẽ những cổ vật Trung Hoa sẽ bị phá hủy một cách ngu xuẫn hay bị vơ vét bán ra nưới ngoài bởi bọn tham ô."CỐ CUNG Đài Bắc" là bảo tàng viện lớn nhất của người Hoa, nó lớn hơn bảo tàng viện ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, có hơn 72,000 cổ vật. Thông thường 3-4 tháng sẽ thay đổi mọi vật triễn lãm một lần như vậy muốn coi hết thì phải mất hơn 40 năm. Trong số hơn bảy mươi vạn bảo vật đó có một bảo vật của Việt Nam thế kỷ 15, đó là một tượng vua khỉ bằng sứ màù xanh chìm, tìm được ở duyên hải Việt Nam
Thăm Cố Cung Đài Bắc, một buổi thì quá ít, xem chưa đã
Tượng sứ men xanh chìm  Vua Khỉ (hầu Vương) của Việt Nam là một trong những báu vật của Cố Cung
Hôm đến thăm là 30/9, sắp đến ngày quốc khánh 1/10 của Trung Quốc. Vì nơi đây đa phần là khách đến từ Đại Lục, cho nên dễ hiểu là trước cửa cố cung, khá đông người tụ tập phản đối Trung Cộng, họ dương pano biểu ngữ rất nhiều, kể tội ác của Đảng CS TQ và hô hào thoái Đảng, Đoàn, Đội để tránh hậu họa.
Pano phản đối Trung Cộng trước Cố Cung: Hãy ra khỏi 党 .团.队...(chữ giản thể cho Đại lục đọc)



Lên xe về trung tâm Đài Bắc, có lẽ đã đón nhiều đoàn khách VN rồi nên Cty Thiên Hà bố trí cho đoàn đến một cửa hàng “Tâm Linh”, nơi bán những con Tì Hưu mang đến tài lộc. Để tiếp thị cho món hàng tâm linh, họ đã tổ chức cả một cuộc thuyết trình về âm dương ngũ hành , giải đoán số mệnh bằng tiếng Việt, do một bà trung niên người Việt diễn giảng, có nhiều cô bán hàng người Việt. Tiếp đó lại đến một cửa hàng “Mỹ Dược Trang” , mốt làm đẹp bằng các nữ trang sức khỏe. Một cô sinh viên xinh đẹp, người Việt mới tốt nghiệp 2 năm ở lại Đài Loan đứng thuyết trình, làm những thí nghiệm vòng đeo tay, giây đeo cổ chống được bức xạ điện từ, giảm huyết áp…rất “hấp dẫn”, các bà các chị mê tít. Hai phu quân là nhà vật lý Đông A và nhà hóa học Uy Liêm chắc không dám cản các bà vợ bèn xui tôi: “ Cậu là nhà vật lý phải bảo các bà đừng tin chuyện phi lý đó đi “. Tôi trả lời “ Để các bà tin tưởng là đã chữa được 50% bệnh rồi, sao lại cản họ “. “nhưng mà chuyện đó không đúng, không nên tin theo” . “ Các ông không thấy là có những học thuyết phi lý gấp mấy mà lôi cả dân tộc phải tin theo, thậm chí hy sinh cả tính mạng, tài sản mà còn làm được , nhằm nhò gì mấy chuyện bán hàng này. Người ta đều áp dụng nguyên lý bầy đàn cả thôi !” Hai ông bạn cười xòa và vui vẻ nhìn các bà các chị hớn hở rút ví ra trả tiền trả hàng đống tiền để mua về niềm tin và hy vọng, ôi đời vui thật !

Chen nhau mua các trang sức chữa bệnh: Vòng,tay, vòng cổ chống điện từ, hạ huyết áp
Tìm hiểu về sản phẩm tâm linh, nhưng hình như không chị nào mua


Cưỡi ngựa xem hoa hai ngày ở Đài Bắc, chúng tôi lên xe về Đài Trung, rẽ sang phía tây đến Nam Đầu. Đây là vùng núi và cao nguyên của Đài Loan. Tôi đã đi đường cao tốc nước Mỹ, Nhật, khắp Châu Âu, quả thật cao tốc Đài Loan tuyệt vời, có lẽ nhất thế giới. Cao tốc lên núi phẳng lỳ, gặp núi thì xuyên hầm, cầu cạn qua thung lũng. Vùng này là xứ sở của trầu cau và chè. Bạt ngàn vườn cau, những cây cau gầy gò caovuts khác hẳn VN, quả cũng chỉ nhỏ như ngón tay, đàn ông đa phần ăn trầu, cả ông lái xe của chúng tôi suốt ngày nhai trầu miệng đỏ loét. Hồi trước tôi đến Ấn Độ, Pakistan..thấy đàn ông ăn trầu đã lạ, nay đến Đài Loan mới tin chắc ăn trầu không phải là của VN, chuyện sự tích trầu cau của ta cũng là chuyện bịa, chẳng phải truyền thuyết dân gian nào cả. 
Bạt ngàn rừng cau dọc đường lên núi

Dừng lại ở một xưởng trà Ô Long , người Đài Loan tiếp thị giỏi thật, có cả mấy cô gái người Việt làm công cũng bán hàng ở đó. Các chị nhà ta cũng giỏi mặc cả, họ đòi 2000 Đài tệ một hộp bột trà xanh, cuối cùng ngã giá mua một hôp phải tặng một hộp, mọi loại khác cũng vậy đều giảm một nửa kiểu đó , hai bên đều có lợi. Rời quán trà, lên cao tiếp đến nơi một tộc cư dân bản địa sinh sống , đó là dân tộc Thiệu  , chỉ còn lại hơn 200 người, bởi vì trận động đất gần đây đã làm chết hơn ngàn người Thiệu rồi, vì vậy nhà nước Đài Loan hết sức nâng đỡ du lịch vùng này để cứu người dân. Sau một bữa cơm trưa dân tộc , với khẩu vị gần như của Việt Nam là cuộc liên hoan nhảy múa với các cô gái dân tộc thiệu, thực chất là màn dạo đầu để bán sản vật Linh Chi, Bào thai hươu, thuốc thảo mộc…
Trước cửa xưởng Bột trà xanh dưỡng sinh- mốt hiện nay đấy!
Các U80 nhảy múa cùng các thiếu nữ dân tộc Thiệu 邵 shào
 Đích đến hôm nay là Đầm Nhật Nguyệt (日月潭) , đó là đầm tự nhiên lớn nhất của Đài Loan. Nằm trên vùng cao nguyên, đầm Nhật Nguyệt cách mặt biển khoảng hơn 700m, thuộc quận Nam Đầu (Nantou), miền trung Đài Loan. Đây là đầm thiên nhiên lớn nhất , phía đông của đầm tròn như mặt trời, còn phía tây lại cong bán nguyệt. Vì vậy nơi đây mới được gọi là Đầm (hồ) Nhật Nguyệt. Người ta nói rằng ai chưa đến đây coi như chưa đến Đài Loan.
Sau lưng là Đầm Nhật Nguyệt (日月潭)
quả trứng luộc lá trà của bà cụ ở đầm nhật nguyêt日月潭阿婆茶葉蛋
Điện thờ tại Văn Vũ Miếu bên Đầm Nhật Nguyệt

Ngồi trên du thuyền trắng, nước trong xanh, mây trời lẫn trong sương mờ bảng lãng, núi non trùng điệp soi bóng nước, thật như cảnh thần tiên. Lại được ăn món trứng luộc đặc sản gọi là 日月潭阿婆茶葉蛋nhật nguyệt đàm a trà diệp đản (trứng luộc lá trà của bà cụ ở đầm nhật nguyêt) có vị rất lạ. Vỏ quả trứng được làm rạn rất đều, luộc với lá trà và gia vị bí truyền, ngấm sâu vào trứng, thật đáng trải nghiệm một lần trong đời. Sang bờ bên kia, rời du thuyền leo lên núi viếng đền Văn Vũ, thờ Quan Công, Khổng Tử. Lại quay về du thuyền trở lại bến lên xe về Đài Trung, đi chợ đêm Phụng Giáp, chủ yếu chỉ bán thực phẩm hoa quả….

Phố nhỏ Đài Trung, nhà đeo "ba lô" như Hà Nội
Trung tâm Đài Trung hiện đại

Ngõ phố Đài Trung cũng chật hẹp và Trung tâm Đài Trung thì hiện đại
Trong phố hẹp, nhà chung cư cũng đeo chuồng cọp như Đài Bắc và Hà Nội.

Nghỉ một đêm ở Đài Trung, sáng hôm đi tiếp về Cao Hùng, ngày cuối cùng của chuyến đi. Nơi đầu tiên đến là Phật Quang Sơn, nơi có quần thể đền đài và tượng phật lớn nhất Đài Loan, nghe đâu tượng phật ngồi lớn nhất châu Á. Xem ra thì cũng kiểu Bái Đính nhà ta, nhưng họ có trước và hoành tráng hơn nhiều
Tượng phật ngồi lớn nhất châu Á ở Phật quang Sơn, 
Trước Chùa Phật Quang
Có ai đọc được bức thư pháp này không ? Tôi thì chịu. Người Trung hoa bình thường cũng chào thua.Cho nên họ có bản chú thích  như bốn câu kinh phật như sau: 






Trời bắt đầu mưa, lần đầu tiên sau bão, chúng tôi gặp mưa cho nên tôi không đi ngắm danh thắng Đầm Liên Trì của Cao Hùng, xin mượn ảnh của cụ Trưởng Lão Fiohan để minh họa vậy. 
Cụ Trưởng Lão trước Đầm Liên Trì ở Cao Hùng

Buổi chiều cuối cùng dành cho các tín đồ mua sắm. Đầu tiên là đến xưởng bánh dứa đặc sản của Cao Hùng sau đó là đến ba đại siêu thị liền nhau ở Trung Tâm thành phố. Tất cả các ông chẳng ai bảo ai đều dừng lại trong quán café Starbuck để check internet, còn các bà các cô có ba tiếng đồng hồ rủ nhau shopping. Được biết mua hàng quá ba ngàn tệ thì sẽ được thoái thuế ngay ở cửa Siêu thị. Chuyện vui là cả đoàn tập hợp các hóa đơn lại thì cũng khá lớn để thoái thuế, duy có một hóa đơn chỉ có ghi là 100 tệ, trong khi bà chị mua phải trả 1000 tệ. Tức mình phải quay lại làm cho ra nhẽ. Với chứng cứ đầy đủ, người bán hàng phải lặng lẽ nhận lỗi, làm thêm một bill bổ sung 900 tệ nữa. Hóa ra đây là thủ thuật trốn thuế của cửa hàng, khi biết người mua ú ớ thì họ ghi giá tiền thấp đi. Trốn lậu thuế, đâu cũngnhư nhau, chẳng kể gì nước giàu nước nghèo , Đài Loan hay Việt Nam, buôn bán là vây!!
Tối 1/10, Trung Hoa Đại Lục kỷ niệm 67 năm ngày CHND Trung Hoa ra đời. Tại một nhà hàng ở thành phố Cao Hùng Đài Loan cũng tổ chức một buổi lễ kỷ niệm ngày ra đời lần thứ 82 , trước Trung Hoa CS 15 năm, của Trưởng Lão Trịnh Bá Phiến, với rượu Wishky và bánh sinh nhật . Mọi người cùng vỗ tay hát bài Happy Bỉrthday bằng cả tiếng Hoa trong khi cụ Fiohan thổi ngọn nến tượng trưng. Thật là một chuyến đi hoàn hảo.
Happy Birthday Trưởng lão Trịnh Bá Phiến lần thứ 82!


Năm giờ sáng, rời KS ra sân bay Cao Hùng bay về Hà Nội.
Chào tạm biệt FORMOSA ISLAND- Hòn đảo Đài Loan.
Tạm biệt hòn đảo Formosa !


Chuyến đi đã được Cty Thăng Long GTC (Việt Nam) và Cty Thiên Hà (Đài Loan) tổ chức thật hoàn hào, miễn chê, dù là các U80 khó tính nhất.
Hành trình 4 đêm 5 ngày do Thăng Long GTC phối hợp với Cty Thiên Hà Đài Loan tổ chức


Riêng tôi, ngoài khám phá những điều thú vị của Đài Loan, còn thu hoạch được đầy túi (không phải hàng Tàu độc hại) những bột trà xanh, nấm linh chi, cam, kiwi, bánh dứa…Nhưng có lẽ thành công lớn nhất, được phu nhân khen tặng, ấy là Dầu mát Kim môn, Trà sữa Đài loan và đặc biệt Lạp Xường tươi, đặc sản doanh nghiệp gia đình cô Hướng dẫn viên Ngọc Tú . Vị ngon thật đặc biệt hấp dẫn, khi tôi đang viết những dòng này thì đã tiêu thụ hết và con dâu đề nghị bố chồng tìm cách đặt mua thật nhiều về cho các con cháu cùng thưởng thức.