Thứ Sáu, ngày 07 tháng 10 năm 2016

Ghi chép dọc đường trên đảo FORMOSA


     
FORMOSA ISLAND DU KÝ
(Đài Loan Du Ký)
Người ta kể rằng năm 1542 những thủy thủ Bồ Đào Nha khi nhìn thấy hòn đảo đã kêu lên » Ilha Formosa » có nghĩa là  "beautiful island tức Hòn đảo Xinh đẹp", từ đó cho đến đầu thế kỷ 20 phương Tây gọi Đảo Đài Loan là FORMOSA 福爾摩沙
Lâu ngày không sang Trung Quốc, năm ngoái nhóm Quế Lâm xưa định đi, sau vì ngại chuyện Trung Việt nên hủy. Năm nay, nổi hứng lên, nhóm trẻ con hơn sáu chục năm trước  ở Quế Lâm lại rủ nhau đi Trung Hoa Dân Quốc, tức là Đài Loan đó, để tìm lại chút kỷ niệm xưa với người Trung Hoa, cũng là xem Trung Hoa dân chủ khác vớiTrung Hoa Cộng Sản như thế nào..Tuy đã đi hầu khắp thế giới, Đài Bắc cũng có ghé qua rồi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi đi “du lịch” đúng nghĩa vì theo tour của Cty du lịch 4 đêm 5 ngày, có người đưa đón, giới thiệu. Đa số trong đoàn 16 người ít nhiều đều hiểu tiếng Trung cả nên cũng chẳng có khó khăn gì.
Đài Loan chẳng xa xôi mấy, mỏm cực nam Đài Loan nằm cùng vĩ độ với Lạng Sơn, chạy hơn 400km lên phía bắc là hết đảo lớn, gọi là tỉnh Đài Loan, chỉ có hai tỉnh thôi, tỉnh thứ hai gồm mấy đảo Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ gọi là tỉnh Phúc Kiến, cùng tên với tỉnh Phúc Kiến đối diện bên Đại Lục Cộng Sản. Nhớ hồi những năm 1955/56 lũ trẻ chúng tôi ngày ngày hồi hộp nghe loa nhà trường đọc tin chiến dich của Bác Mao nã đại bác vào đảo Mã Tổ , một ngày bắn một ngày nghỉ, vui đáo để ! So với Việt Nam thì diện tích Đài Loan 36000km2, bằng 1/10, dân số 23,5 M bằng ¼, vậy là mật độ dân cư gấp 2,5 lần Việt Nam, đúng là đất chật người đông, thế mà cũng không ngăn cản họ giàu (GDP theo sức mua tương đương 2014) gấp 7,7 lần Việt Nam, và 4,6 lần Trung Hoa Cộng sản, xấu hổ thật! Tất nhiên tôi đi không phải chỉ để ngắm họ giàu mạnh thế nào, không vì cao ốc hay độ xa hoa mà còn muốn khám phá nhiều hơn con người và cuộc sống phía sau đó…
Đã có thể nhận ngay ra tâm hồn Trung Hoa trên con đường từ sân bay Đào Nguyên về Đài Bắc. Đường phố ngoại ô, những ngôi nhà ống cao thấp nhấp nhô, xưởng thợ bám mặt phố…có khác gì Quế Lâm , Quảng Châu hay Biên Hòa, Chợ Lớn ?
Đường từ sân bay Đào Viên về Đài Bắc, nhìn từ trên ô tô


Nhà xưởng bám đường

Nhà ống Trung Hoa
 Đài Bắc là thành phố lớn nhất và cũng cổ nhất của Đài Loan, chủ yếu do người Nhật cai trị Đài Loan từ trước 1945 xây dựng. Đường phố nhỏ hẹp, gon ghẽ sạch sẽ. Tòa thị chính từ thời Nhật còn mang dáng dấp kiến trúc Nhật, ảnh hưởng từ kiến trúc Đức , nằm ở Trung tâm thành phố, tấp nập ô tô và xe máy. Xe máy khá đông và rất trật tự, đâu phải là tội đồ mà cấm. Thê mà mà sao quan chức Hà Nội lại đang hăng hái hô hào cấm xe máy nhỉ? Không quản được thì cấm, triết lý của nhà nước VN là vậy rồi.

Tòa thị chính xây từ thời Nhật, hơi hướng kiến trúc Đức, như tòa thị chính Berlin


Xe máy chen nhau ở Trung Tâm thành phố, nhưng rất trật tự




Một Đài Bắc bình dị , ô tô xe máy chen nhau, ban công chung cư đeo “balo” với một Đài Loan hiện đại , như tòa nhà cây tre cao thứ 9 thế giới. Hóa ra “chuồng cọp” nhà chung cư không phải là phát minh của Việt Nam, và nghe đâu Hà Nội đang muốn xây tòa tháp cao nhất châu Á !
Đài Bắc hiện đại với tìa tháp 101 hình cây tre cao thứ 9 thế giới
Và Đài Bắc với những chung cư "chuồng cọp" không khác gì Kim Liên-Trung Tự ở Hà Nội
Đài Bắc hiện đại nhìn từ tầng 89 tòa tháp 101
Đến thăm Đài tưởng niệm Trung Chính (tức Tưởng Giới Thạch), tiếc thay là vì mới bão qua, mọi cơ sở nhà nước đều đóng cửa, chỉ vào vườn và tham quan bên ngoài. Lại nhớ chuyện Tưởng Giới Thạch cho con là Tưởng Kinh Quốc sang học ở Liên Xô, vào Đảng CS LX rồi làm quản đốc nhà máy ở Ural, nhưng Kinh Quốc về nước tuyên bố không thể chấp nhận Cộng Sản được, sau khi cha mất, Kinh Quốc làm tổng thống và có công lớn xây dựng Đài Loan phồn vinh. Rủ nhau đến viếng Long Sơn Phật tự , ngôi chùa linh thiêng nhất Đài Bắc. Quang cảnh không khác mấy chùa Quán sứ, nhưng có phần hoành tráng hơn.  Hồ Uy Liêm nhận xét: ”Dân Đài Loan mộ đạo thật sự, hành đạo một cách tự nguyện bài bản, khác với nam thanh nữ tú đến chùa như ở nước ta , chỉ mong cầu tài cầu lộc là chính.” 
Đài tưởng niệm Trung Chính (Tưởng Giới Thạch)


Trước Long Sơn Phật Tự

Đến Đài Bắc mà không đến chợ đêm Tây Môn Đinh thì thật là uổng. Chợ đêm là một khu phố đi bộ rộng, đường phố chằng chịt không khác gì 36 phố phường Hà Nội, có điều nhà to hơn, sạch sẽ gọn gàng hơn, không có xe máy lộn xộn vỉa hè. Hàng hóa thượng vàng hạ cám gì cũng có, được cái rõ ràng hàng Tàu lục địa rẻ tiền thì ghi rõ ràng, hàng  Đài chính hiệu giá cao hơn nhiều, nhưng cũng được chuộng hơn. Lại vào dịp sang thu, hàng mùa hè đại hạ giá, các chị ,các cô trong đoàn tha hồ mua sắm.
Chợ đêm và khu phố đi bộ Tây Môn Đinh, nơi đây tôi đã mua được một hộp keo con voi để dán đôi giày há mõm!
Đến chợ đêm Tây Môn Đinh đôi giày của tôi bị há mõm, phải đi tìm mua keo dán lại ngay. Khổ nỗi hỏi ai cũng không biết keo gián dày tiếng Trung gọi là gì, kể cả cô hướng dẫn viên tốt nghiệp ĐH ngoại ngữ tiếng Trung Hà Nội, lấy chồng Đài Loan đã 10 năm cũng không biết . Bí quá tôi vào liều một hiệu tạp hóa, chỉ vào giầy há mõm hỏi hỏi cô nàng trẻ tuổi răng tôi cần phải dán lại, cô có cái gì dán không ? Cô ta hiểu , bào không có, ông thử hỏi cửa hàng Seven/Eleven xem có không. Tôi hỏi tiếng Đài gọi là gì, cô ta bảo “lian xia ti cheo” , đành nhờ cô viết hộ ra giấy , hóa ra là  “ 連鞋的膠 Lián xié de jiāo- “. Thế là tôi mua được keo con voi, và biết thêm một từ tiếng Trung đọc là “cheo” , Việt đọc “Keo”   vốn có gốc Hán Việt là “giao” việt hóa thành “keo”. Hôm sau mới biết các chị Châu Loan (vợ anh Nhật), Dục Tú (K5) cũng có vấn đề về giày giống tôi. Hơn 60 năm rồi , tiếng Trung đã khác nhiều. Chiều hôm sau , vào nhà hàng ăn, không hiểu sao cô phục vụ lại chạy đến hỏi tôi “Dào yóu ?”. Giật mình chẳng hiểu gì nghe chữ “yóu” nghĩ rằng nhà hàng hỏi cái nước  chấm (dầu ) gì đây chắc, “dào ” là gạo, chẳng lẽ họ hỏi mình có dùng dầu gạo 稻油  không , mà dầu gạo là gì cơ chứ ? thấy lạ nên tôi trả lời “không hiểu cô hỏi gì”. Ngồi vào ăn chợt ngước nhìn trước mặt thấy cái biển to tướng, có chữ  導遊 (đạo du) cũng đọc là “Dào yóu”. Nhìn mặt chữ lại đọc cả bảng hiệu mới vỡ lẽ ra Đạo Du có nghĩa là dẫn đoàn du lịch, mà ta gọi là Tour Guide. 
Biển ghi: Dào yóu 導遊 và lái xe miễn phí 300 đài tệ"
Dào yóu 導遊-tour guide" rất tận tình của đoàn du lịch

Thú vị thật , Dầu GạoHướng dẫn viên du lịch phát âm như nhau! Văn không ôn, võ không luyện, 60 năm không dùng tiếng Trung , hậu quả là thế đấy. Có lẽ thấy tôi ngồi bên cờ hiệu của đoàn du lịch, chắc họ nghĩ tôi là Tour Guide nên mới gọi tôi. Bởi vì toàn văn bảng chữ ghi: Khu vực danh cho hướng dẫn viên và lái xe.  Miễn phí cho Hướng dẫn viên và lái xe suất ăn ước khoảng 300 Đài tệ/người (~210.000VNĐ). Người Đài Loan minh bạch thật, không kín kín hở hở như nhà hàng và người nhà xe như ở ta, thật đáng học tập. Và không cần hỏi tôi cũng ước lượng được mỗi bữa ăn nhà hàng của đoàn cũng khoảng dưới 300 tệ/ người. Cô hướng dẫn viên cho biết một suất cơm hộp văn phòng ở đây từ 80 đến 100 tệ (60-70K VNĐ) . Người Đài Loan phải có thu nhập tối thiểu 35000-40000 tê/tháng (25-30 triệu VNĐ) mới đủ trang trải cuộc sống

Ngày thứ hai ở Đài Bắc chúng tôi đi thăm Cố Cung , đúng hơn là 國立故宮博物院 Quốc lập cố cung bác vật viện nơi lưu giữ và trưng bày bảo vật quốc gia. Người ta kể rằng, năm 1949 lúc rút quân chạy qua Đài Loan, Tưởng Giới Thạch chẳng những chỉ chở hàng ngàn tấn vàng ngọc, mà còn ra lệnh đem toàn bộ cổ vật trong tất cả bảo tàng viện bí mật chuyển sang Đài Loan không để rơi vào tay TC. Đây là một điểm son cho Tưởng Giới Thạch vì nếu để lại có lẽ những cổ vật Trung Hoa sẽ bị phá hủy một cách ngu xuẫn hay bị vơ vét bán ra nưới ngoài bởi bọn tham ô."CỐ CUNG Đài Bắc" là bảo tàng viện lớn nhất của người Hoa, nó lớn hơn bảo tàng viện ở Bắc Kinh hay Thượng Hải, có hơn 72,000 cổ vật. Thông thường 3-4 tháng sẽ thay đổi mọi vật triễn lãm một lần như vậy muốn coi hết thì phải mất hơn 40 năm. Trong số hơn bảy mươi vạn bảo vật đó có một bảo vật của Việt Nam thế kỷ 15, đó là một tượng vua khỉ bằng sứ màù xanh chìm, tìm được ở duyên hải Việt Nam
Thăm Cố Cung Đài Bắc, một buổi thì quá ít, xem chưa đã
Tượng sứ men xanh chìm  Vua Khỉ (hầu Vương) của Việt Nam là một trong những báu vật của Cố Cung
Hôm đến thăm là 30/9, sắp đến ngày quốc khánh 1/10 của Trung Quốc. Vì nơi đây đa phần là khách đến từ Đại Lục, cho nên dễ hiểu là trước cửa cố cung, khá đông người tụ tập phản đối Trung Cộng, họ dương pano biểu ngữ rất nhiều, kể tội ác của Đảng CS TQ và hô hào thoái Đảng, Đoàn, Đội để tránh hậu họa.
Pano phản đối Trung Cộng trước Cố Cung: Hãy ra khỏi 党 .团.队...(chữ giản thể cho Đại lục đọc)



Lên xe về trung tâm Đài Bắc, có lẽ đã đón nhiều đoàn khách VN rồi nên Cty Thiên Hà bố trí cho đoàn đến một cửa hàng “Tâm Linh”, nơi bán những con Tì Hưu mang đến tài lộc. Để tiếp thị cho món hàng tâm linh, họ đã tổ chức cả một cuộc thuyết trình về âm dương ngũ hành , giải đoán số mệnh bằng tiếng Việt, do một bà trung niên người Việt diễn giảng, có nhiều cô bán hàng người Việt. Tiếp đó lại đến một cửa hàng “Mỹ Dược Trang” , mốt làm đẹp bằng các nữ trang sức khỏe. Một cô sinh viên xinh đẹp, người Việt mới tốt nghiệp 2 năm ở lại Đài Loan đứng thuyết trình, làm những thí nghiệm vòng đeo tay, giây đeo cổ chống được bức xạ điện từ, giảm huyết áp…rất “hấp dẫn”, các bà các chị mê tít. Hai phu quân là nhà vật lý Đông A và nhà hóa học Uy Liêm chắc không dám cản các bà vợ bèn xui tôi: “ Cậu là nhà vật lý phải bảo các bà đừng tin chuyện phi lý đó đi “. Tôi trả lời “ Để các bà tin tưởng là đã chữa được 50% bệnh rồi, sao lại cản họ “. “nhưng mà chuyện đó không đúng, không nên tin theo” . “ Các ông không thấy là có những học thuyết phi lý gấp mấy mà lôi cả dân tộc phải tin theo, thậm chí hy sinh cả tính mạng, tài sản mà còn làm được , nhằm nhò gì mấy chuyện bán hàng này. Người ta đều áp dụng nguyên lý bầy đàn cả thôi !” Hai ông bạn cười xòa và vui vẻ nhìn các bà các chị hớn hở rút ví ra trả tiền trả hàng đống tiền để mua về niềm tin và hy vọng, ôi đời vui thật !

Chen nhau mua các trang sức chữa bệnh: Vòng,tay, vòng cổ chống điện từ, hạ huyết áp
Tìm hiểu về sản phẩm tâm linh, nhưng hình như không chị nào mua


Cưỡi ngựa xem hoa hai ngày ở Đài Bắc, chúng tôi lên xe về Đài Trung, rẽ sang phía tây đến Nam Đầu. Đây là vùng núi và cao nguyên của Đài Loan. Tôi đã đi đường cao tốc nước Mỹ, Nhật, khắp Châu Âu, quả thật cao tốc Đài Loan tuyệt vời, có lẽ nhất thế giới. Cao tốc lên núi phẳng lỳ, gặp núi thì xuyên hầm, cầu cạn qua thung lũng. Vùng này là xứ sở của trầu cau và chè. Bạt ngàn vườn cau, những cây cau gầy gò caovuts khác hẳn VN, quả cũng chỉ nhỏ như ngón tay, đàn ông đa phần ăn trầu, cả ông lái xe của chúng tôi suốt ngày nhai trầu miệng đỏ loét. Hồi trước tôi đến Ấn Độ, Pakistan..thấy đàn ông ăn trầu đã lạ, nay đến Đài Loan mới tin chắc ăn trầu không phải là của VN, chuyện sự tích trầu cau của ta cũng là chuyện bịa, chẳng phải truyền thuyết dân gian nào cả. 
Bạt ngàn rừng cau dọc đường lên núi

Dừng lại ở một xưởng trà Ô Long , người Đài Loan tiếp thị giỏi thật, có cả mấy cô gái người Việt làm công cũng bán hàng ở đó. Các chị nhà ta cũng giỏi mặc cả, họ đòi 2000 Đài tệ một hộp bột trà xanh, cuối cùng ngã giá mua một hôp phải tặng một hộp, mọi loại khác cũng vậy đều giảm một nửa kiểu đó , hai bên đều có lợi. Rời quán trà, lên cao tiếp đến nơi một tộc cư dân bản địa sinh sống , đó là dân tộc Thiệu  , chỉ còn lại hơn 200 người, bởi vì trận động đất gần đây đã làm chết hơn ngàn người Thiệu rồi, vì vậy nhà nước Đài Loan hết sức nâng đỡ du lịch vùng này để cứu người dân. Sau một bữa cơm trưa dân tộc , với khẩu vị gần như của Việt Nam là cuộc liên hoan nhảy múa với các cô gái dân tộc thiệu, thực chất là màn dạo đầu để bán sản vật Linh Chi, Bào thai hươu, thuốc thảo mộc…
Trước cửa xưởng Bột trà xanh dưỡng sinh- mốt hiện nay đấy!
Các U80 nhảy múa cùng các thiếu nữ dân tộc Thiệu 邵 shào
 Đích đến hôm nay là Đầm Nhật Nguyệt (日月潭) , đó là đầm tự nhiên lớn nhất của Đài Loan. Nằm trên vùng cao nguyên, đầm Nhật Nguyệt cách mặt biển khoảng hơn 700m, thuộc quận Nam Đầu (Nantou), miền trung Đài Loan. Đây là đầm thiên nhiên lớn nhất , phía đông của đầm tròn như mặt trời, còn phía tây lại cong bán nguyệt. Vì vậy nơi đây mới được gọi là Đầm (hồ) Nhật Nguyệt. Người ta nói rằng ai chưa đến đây coi như chưa đến Đài Loan.
Sau lưng là Đầm Nhật Nguyệt (日月潭)
quả trứng luộc lá trà của bà cụ ở đầm nhật nguyêt日月潭阿婆茶葉蛋
Điện thờ tại Văn Vũ Miếu bên Đầm Nhật Nguyệt

Ngồi trên du thuyền trắng, nước trong xanh, mây trời lẫn trong sương mờ bảng lãng, núi non trùng điệp soi bóng nước, thật như cảnh thần tiên. Lại được ăn món trứng luộc đặc sản gọi là 日月潭阿婆茶葉蛋nhật nguyệt đàm a trà diệp đản (trứng luộc lá trà của bà cụ ở đầm nhật nguyêt) có vị rất lạ. Vỏ quả trứng được làm rạn rất đều, luộc với lá trà và gia vị bí truyền, ngấm sâu vào trứng, thật đáng trải nghiệm một lần trong đời. Sang bờ bên kia, rời du thuyền leo lên núi viếng đền Văn Vũ, thờ Quan Công, Khổng Tử. Lại quay về du thuyền trở lại bến lên xe về Đài Trung, đi chợ đêm Phụng Giáp, chủ yếu chỉ bán thực phẩm hoa quả….

Phố nhỏ Đài Trung, nhà đeo "ba lô" như Hà Nội
Trung tâm Đài Trung hiện đại

Ngõ phố Đài Trung cũng chật hẹp và Trung tâm Đài Trung thì hiện đại
Trong phố hẹp, nhà chung cư cũng đeo chuồng cọp như Đài Bắc và Hà Nội.

Nghỉ một đêm ở Đài Trung, sáng hôm đi tiếp về Cao Hùng, ngày cuối cùng của chuyến đi. Nơi đầu tiên đến là Phật Quang Sơn, nơi có quần thể đền đài và tượng phật lớn nhất Đài Loan, nghe đâu tượng phật ngồi lớn nhất châu Á. Xem ra thì cũng kiểu Bái Đính nhà ta, nhưng họ có trước và hoành tráng hơn nhiều
Tượng phật ngồi lớn nhất châu Á ở Phật quang Sơn, 
Trước Chùa Phật Quang
Có ai đọc được bức thư pháp này không ? Tôi thì chịu. Người Trung hoa bình thường cũng chào thua.Cho nên họ có bản chú thích  như bốn câu kinh phật như sau: 






Trời bắt đầu mưa, lần đầu tiên sau bão, chúng tôi gặp mưa cho nên tôi không đi ngắm danh thắng Đầm Liên Trì của Cao Hùng, xin mượn ảnh của cụ Trưởng Lão Fiohan để minh họa vậy. 
Cụ Trưởng Lão trước Đầm Liên Trì ở Cao Hùng

Buổi chiều cuối cùng dành cho các tín đồ mua sắm. Đầu tiên là đến xưởng bánh dứa đặc sản của Cao Hùng sau đó là đến ba đại siêu thị liền nhau ở Trung Tâm thành phố. Tất cả các ông chẳng ai bảo ai đều dừng lại trong quán café Starbuck để check internet, còn các bà các cô có ba tiếng đồng hồ rủ nhau shopping. Được biết mua hàng quá ba ngàn tệ thì sẽ được thoái thuế ngay ở cửa Siêu thị. Chuyện vui là cả đoàn tập hợp các hóa đơn lại thì cũng khá lớn để thoái thuế, duy có một hóa đơn chỉ có ghi là 100 tệ, trong khi bà chị mua phải trả 1000 tệ. Tức mình phải quay lại làm cho ra nhẽ. Với chứng cứ đầy đủ, người bán hàng phải lặng lẽ nhận lỗi, làm thêm một bill bổ sung 900 tệ nữa. Hóa ra đây là thủ thuật trốn thuế của cửa hàng, khi biết người mua ú ớ thì họ ghi giá tiền thấp đi. Trốn lậu thuế, đâu cũngnhư nhau, chẳng kể gì nước giàu nước nghèo , Đài Loan hay Việt Nam, buôn bán là vây!!
Tối 1/10, Trung Hoa Đại Lục kỷ niệm 67 năm ngày CHND Trung Hoa ra đời. Tại một nhà hàng ở thành phố Cao Hùng Đài Loan cũng tổ chức một buổi lễ kỷ niệm ngày ra đời lần thứ 82 , trước Trung Hoa CS 15 năm, của Trưởng Lão Trịnh Bá Phiến, với rượu Wishky và bánh sinh nhật . Mọi người cùng vỗ tay hát bài Happy Bỉrthday bằng cả tiếng Hoa trong khi cụ Fiohan thổi ngọn nến tượng trưng. Thật là một chuyến đi hoàn hảo.
Happy Birthday Trưởng lão Trịnh Bá Phiến lần thứ 82!


Năm giờ sáng, rời KS ra sân bay Cao Hùng bay về Hà Nội.
Chào tạm biệt FORMOSA ISLAND- Hòn đảo Đài Loan.
Tạm biệt hòn đảo Formosa !


Chuyến đi đã được Cty Thăng Long GTC (Việt Nam) và Cty Thiên Hà (Đài Loan) tổ chức thật hoàn hào, miễn chê, dù là các U80 khó tính nhất.
Hành trình 4 đêm 5 ngày do Thăng Long GTC phối hợp với Cty Thiên Hà Đài Loan tổ chức


Riêng tôi, ngoài khám phá những điều thú vị của Đài Loan, còn thu hoạch được đầy túi (không phải hàng Tàu độc hại) những bột trà xanh, nấm linh chi, cam, kiwi, bánh dứa…Nhưng có lẽ thành công lớn nhất, được phu nhân khen tặng, ấy là Dầu mát Kim môn, Trà sữa Đài loan và đặc biệt Lạp Xường tươi, đặc sản doanh nghiệp gia đình cô Hướng dẫn viên Ngọc Tú . Vị ngon thật đặc biệt hấp dẫn, khi tôi đang viết những dòng này thì đã tiêu thụ hết và con dâu đề nghị bố chồng tìm cách đặt mua thật nhiều về cho các con cháu cùng thưởng thức.

Thứ Hai, ngày 12 tháng 9 năm 2016

Vì sao Đại Việt chưa bị Hán hóa

08:49-03/09/2016 08:49-03/09/2016 
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=9983
Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt
Trần Gia Ninh

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia
ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt. 

Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?
Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.
Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.
Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).
Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.
Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.
Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.
Sách Lộ Sử của La Bí (1131 - 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.
Hán Hóa Bách Việt - Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán
Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô - Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 - 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 - 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.
Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc - Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 - 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương(Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký - thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân - Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 - con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 - hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô - Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.
Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh - tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán
Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam... gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…
Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.
Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần - Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.
Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh - Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.
Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.
Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.
Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.
Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20“Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.
Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.
Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?
Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 - Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 - Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:
* Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.
* Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.
* Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!
Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:
* Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.
* Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.
Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:
* Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.
* Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.
* Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.
(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).
Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.
1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.
2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.
3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.
Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.
Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.
Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.
Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần... Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…
Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1

CHÚ DẪN
1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml
越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html
2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.
3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。
#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html
 The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina
5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)
6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.
8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.
9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).
10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.
11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.
12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).
13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.
14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).
#15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.
16 叶榆水-Diệp Du Thủy
17岱依人-Đại Y nhân
18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.
19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.
20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.
21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!
22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.
23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.
24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).
25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.
26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên
27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? - http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.
28 Đại Việt sử ký toàn thư - NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.